Đạo Phật Ngày Nay

Tiếng Việt từ TK 17: một số cách dùng như bề tràng, nói khoét, nói hoặc, xác mấy, xa xác ... (phần 37B)

Phần này cho thấy cách dùng khá tự do của các từ Hán Việt như tràng (trường), khoát (khoét), hoặc (quốc, vực), xác (chắc) vào TK 17 qua dạng các con chữ La Tinh/Bồ Đào Nha, trong thời bình minh của chữ quốc ngữ. Điều này dẫn đến các cách dùng như bề tràng, nói khoét, nói hoặc, xa xác, xác mấy mà không còn tồn tại trong tiếng Việt hiện đại. Bề tràng/VBL là bề dài, so với khoát chỉ bề ngang/VBL - ngay cả đến đầu TK 20, câu nói "Phiến gỗ khoát một thước" (Việt Nam Tự Điển, Hột Khai Trí Tiến Đức khởi thảo/1931) vẫn còn xa lạ so với tiếng Việt hiện đại! Tràng là dạng cổ hơn của trường, tương tự như đàng và đường, những âm này được VBL ghi lại khá trung thực vào TK 17. Không phải ngẫu nhiên mà ta vẫn gọi Đàng Trong, Đàng Ngoài và Đàng Trên mà không ai gọi Đường Trong, Ngoài và Trên. Vết tích phân kỳ địa lý và chính trị của hai nhà Trịnh Nguyễn đã để lại dấu ấn trong ngôn ngữ toàn dân cho đến ngày nay. Nói khoét vào TK 17 hàm ý khoác lác, phản ánh liên hệ âm HV khoát và khoét hay mở rộng ra; khuynh hướng môi hóa còn cho ra dạng phét và phách của tiếng Việt hiện đại, đều từ dạng khoét thời VBL. Ngoài ra lẫn lộn giữa phụ âm cuối -c và -t, td. giọng Nam Bộ chẳng hạn, cũng giải thích tương quan khoát và khoác. VBL cũng ghi cách dùng nói hoặc cùng nghĩa với nói khoét: hoặc HV hàm ý dối gạt, làm cho mê loạn. Một dạng âm cổ phục nguyên của hoặc là *gʷək dẫn đến nhiều hệ luận thú vị như *gʷək > hoặc, hoắc, hức, quốc, quắc, quách, quát (nạt nộ); khuynh hướng môi hóa phụ âm đầu do ảnh hưởng của nguyên âm đôi tròn môi ʷə dẫn đến các dạng bậc/bực, vực, vức, vợt, vớt; khuynh hướng ngạc hóa dẫn đến các dạng *njưc, nực, nứt, nước ... Như vậy có cơ sở giải thích nước (nác/*dak nghĩa nguyên thủy là chất lỏng) cũng có nghĩa là nước (quốc gia): nước là dạng ngạc hóa của vực (~ hoặc, quốc). Quốc và nước (nác) đều có nghĩa là quốc gia vào thời LM de Rhodes. VBL cũng ghi cách hỏi giá tiền là xác mấy: xác đáng lẽ phải đọc là *khác, cũng như xảo đáng lẽ phải đọc là *khảo. Đây là kết quả của khuynh hướng xát hóa khá phổ biến trong ngôn ngữ. Ngôn ngữ tự nhiên (natural languages/A) thường có khuynh hướng biến âm như xát hoá và ngạc cứng hoá của phụ âm mạnh cuối lưỡi k- để cho ra các phụ âm mềm ch/gi/s/x. Thí dụ như trong loại hình ngôn ngữ Ấn Âu có nhóm centum duy trì âm k- như trong cách đọc centum (c đọc như k hay c trong tiếng Việt hiện nay): centum đọc là /ˈkɛn̪t̪ʊ̃ ˑ/ (đọc gần như là ‘kén tơm’ tiếng Việt) nghĩa là 100; so với nhóm satem đọc satem là /ˈsä-təm/ (đọc gần như là ‘xá tờm’ tiếng Việt) - cũng có nghĩa là 100. Sự phân biệt hai phụ âm đầu k- và s- này xẩy ra vào khoảng 3 thiên niên kỉ TCN, tuy nhiên cần nhắc ở đây là sau đó một số ngôn ngữ (loại centum) còn phân hoá thêm theo khuynh hướng xát hoá như tiếng Pháp (nhánh La Mã/Romance language) cent từng đọc với âm k- nhưng đã đổi thành s- (cent đọc gần như là ‘săng’ trong tiếng Việt với mũi hoá). Thí dụ các ngôn ngữ centum là tiếng Anh, La Tinh, Ý, Hi Lạp, Slavic (thường thuộc về phía tây hay tây nam Âu Châu) so với các ngôn ngữ satem là tiếng Phạn (Sanskrit), Ba Tư, Armenian (thường thuộc về phía đông Âu Châu). Trong nhánh ngôn ngữ Mường Việt , liên hệ kh - s/x thể hiện rất rõ nét: td. khan (Mường Bi) ~ san (Việt), khách ~ sách, khét ~ sét, khon ~ son, khởm ~ sớm, khủng ~ súng ... Tương tự như vậy, dạng âm cổ phục nguyên *kh(r)ac của xác HV có thể xát hóa để cho ra dạng xác, *xạc (rạc) và chắc. Thành ra ít người biết rằng cách nói xác biết - cách đây hơn 2 thế kỉ - tương đương với cách nói biết chắc hiện nay; ngoài ra cách nói xác biết hay xác tri cũng phản ánh phương ngôn Bắc Bộ (Génibrel, sđd). Do đó tiếng nói không những thay đổi từ TK 17 (theo thời gian) mà còn cho thấy yếu tố địa phương (theo không gian). Hi vọng bài viết này là động lực cho người đọc tìm hiểu sâu xa hơn về lịch sử tiếng Việt, cũng như khám phá thêm nhiều kết quả thú vị trong tiếng mẹ đẻ của chúng ta.
Bình luận