Đạo Phật Ngày Nay

Khi nhà sư gặp tuyệt sắc giai nhân

Kinh EA 35.9 kể rằng lúc đó Đức Phật ở tại Ca-lan-đà, trong vườn Trúc, thành La-duyệt, cùng với đại chúng năm trăm tỳ kheo. Bấy giờ, hai ngài A-nan và Đa-kỳ-xa, đúng giờ, đắp y, cầm bát, vào thành khất thực. Lúc ấy, Đa-kỳ-xa ở trong một ngõ hẻm, “thấy một người nữ hết sức xinh đẹp hiếm có kỳ đặc ở đời. Thấy rồi, tâm ý tán lọan, không còn bình thường.”

Bài này sẽ viết về trường hợp ngài Đa-kỳ-xa đi khất thực, gặp một thiếu nữ tuyệt sắc giai nhân, tự thấy tâm mình xao động không ngăn được. Sau khi nghe ngài A-nan nhắc hãy quán bất tịnh, hãy đoạn trừ các niệm về hình tướng (những cái được thấy, được nghe, được cảm thọ, được tư lường...” ngài Đa-kỳ-xa tự quán sát thân tâm mình, thấy rõ các hợp thể đất nước gió lửa trong thân tâm đều không từ đâu sanh ra, nên nhận ra tất cả thân tâm là không, là vô sanh, thấy tận gốc năm uẩn hư huyễn, không thật, và ngài đã chứng quả A la hán trong khi đi bộ trên đường về gặp Đức Phật. Có thể gọi đây là một phiên bản sống của Bát Nhã Tâm Kinh, khi chỉ soi thấy năm uẩn là hư ảo, là không thật, thì dứt bặt vô lượng khổ ách.

Bài này được viết sau khi đọc Kinh EA 35.9 trong Bộ Tăng Nhất A Hàm, bản dịch tiếng Việt của Thầy Tuệ Sỹ và Thầy Đức Thắng, kể chuyện ngài Đa-kỳ-sa (Tagisara) đi khất thực cùng với ngài A-nan (Ananda), và ngài Đa-kỳ-xa xao xuyến khi gặp một thiếu nữ nhan sắc tuyệt trần.

Kinh EA 35.9 (của Tạng A Hàm) có bản tương đương trong Tạng Pali, nhưng bản Pali ngắn hơn, là Kinh SN 8.4, chỉ khác vài chi tiết, thay vì nhân vật chính là ngài Đa-kỳ-xa (Tagisara) lại là ngài Vangìsa (Bà-kỳ-xá). Cốt truyện y hệt, nhưng vì ngắn hơn, nên Kinh SN 8.4 không nói nhiều về cách ứng phó. Trong khi đó, gần như giống hệt với Kinh SN 8.4 và cũng ngắn như thế là Kinh SA 1214 trong Tạp A Hàm.

Kinh EA 35.9 kể rằng lúc đó Đức Phật ở tại Ca-lan-đà, trong vườn Trúc, thành La-duyệt, cùng với đại chúng năm trăm tỳ kheo. Bấy giờ, hai ngài A-nan và Đa-kỳ-xa, đúng giờ, đắp y, cầm bát, vào thành khất thực. Lúc ấy, Đa-kỳ-xa ở trong một ngõ hẻm, “thấy một người nữ hết sức xinh đẹp hiếm có kỳ đặc ở đời. Thấy rồi, tâm ý tán lọan, không còn bình thường.”

Trong chúng hội 500 vị sư, được đi bên cạnh ngài A-nan khất thực buổi sáng, hiển nhiên ngài Đa-kỳ-xa không phải là một vị sư mới nhập chúng, và cũng không phải người bị chìm trong đám đông. Bởi vì ngay cả khi chưa làm thị giả cho Đức Phật, ngài A-nan là em họ của Đức Phật và cũng là một học giả xuất thân từ giới quý tộc. Có lẽ ngài Đa-kỳ-xa cũng thuộc giới quý tộc vì ngài mở miệng là thành thơ, thành kệ, nghĩa là ngài được hưởng một nền giáo dục vững chắc từ thơ ấu. Vậy đó, và ngài Đa-kỳ-xa bất chợt “thấy một người nữ hết sức xinh đẹp hiếm có kỳ đặc ở đời. Thấy rồi, tâm ý tán lọan, không còn bình thường.”

Thấy tâm mình dao động, ngài Đa-kỳ-xa mới đọc một bài kệ xin ngài A-nan cứu nguy vì tâm ngài "Bị lửa dục thiêu đốt / Tâm ý thật cháy bừng. / Xin nói nghĩa diệt nó / Để được nhiều lợi ích."

Nhìn dưới mắt đời thường, ngài Đa-kỳ-xa vẫn chưa tới mức cần cấp cứu, vì ngài vẫn còn đủ bình tỉnh để làm bài kệ. Ngài A-nan liền nói kệ đáp: "Biết dục, pháp điên đảo; / Tâm ý thật cháy bừng. / Hãy trừ niệm hình tướng, / Ý dục liền tự dừng."

Nghĩa là hãy xóa bỏ các niệm về hình tướng (mắt phượng, mày ngài, môi hồng, má phấn, eo thon...), thì tham dục tự nhiên dừng lại. Than ôi, người đời thường như chúng ta thấy ngay là không dễ rồi. Ngài Đa-kỳ-xa lại nói bài kệ rằng mắt đã thấy người đẹp rồi, nên thân tâm bàng hoàng (thân như cỏ rối úa). May mắn, ngài Đa-kỳ-xa chưa tới mức té xỉu, vì vẫn còn bước đi được.

Kinh ghi rằng, thấy như thế, ngài A-nan liền tiến đến, dùng tay phải xoa đầu Đa-kỳ-xa và nói kệ: "Niệm Phật, không tham dục./ Nan-đà vượt dục kia / Thấy trời, hiện địa ngục. / Ngăn ý, lìa năm đường."

Nghĩa là tưởng nhớ tới Phật thì lìa được tham dục, y như ngài Nan-đà đã vược qua dục tâm. Ngài Đa-kỳ-xa sực tỉnh, liền nói rằng phải về gặp Đức Phật: “Thôi, thôi, A-nan! Hãy cùng khất thực xong trở về chỗ Thế Tôn.”

Tuy nhiên, tuyệt vời của Kinh EA 35.9 là khi thấy nàng kia cười với sư, thì sư Đa-kỳ-xa liền nghĩ ngay tới pháp bất tịnh, quán sát thân người nữ kia là một khối xương da bất tịnh, rồi quay lại quán tự thân ngài rằng khối thân thể của sư cũng là hợp thể đất nước gió lửa, không từ đâu sinh ra, và do vậy dục là do tư tưởng sanh ra, nếu không nghĩ tới thì tham dục biến mất. Nghĩa là, trước tiên là thấy bất tịnh, rồi thấy thân tâm là hợp thể do duyên, không có gì gọi là sanh ra (nghĩa là, thấy thân tâm là vô sanh), cho nên dục không thật vì dục cũng vốn là vô sanh. Kinh EA 35.9 kể tiếp, trích:

Khi ấy, người nữ kia từ xa trông thấy Đa-kỳ-xa, cô liền cười. Đa-kỳ-xa khi từ xa thấy người nữ cười, liền phát sanh niệm tưởng này: ‘Cô nay, với hình thể được dựng đứng bởi xương, được quấn chặt bởi da, cũng như cái bình vẽ, bên trong đựng đồ bất tịnh, lừa dối người đời, khiến sinh loạn tưởng.’

Bấy giờ, Tôn giả Đa-kỳ-xa quán sát người nữ kia từ đầu đến chân, trong thân thể này không cái gì đáng ham, ba mươi sáu vật thảy đều bất tịnh. Nay những vật này là từ đâu sinh? Rồi Tôn giả Đa-kỳ-xa lại nghĩ: ‘Nay ta quán sát thân khác, không bằng tự quán sát trong thân mình. Dục này từ đâu sanh? Từ đất sanh chăng? Từ nước, lửa, gió sanh chăng? Nếu từ đất sanh; đất cứng chắc, không thể bị hư hoại. Nếu từ nước sinh, nước rất mềm, không thể bắt giữ. Nếu từ lửa sanh; lửa cũng không thể bị nắm bắt. Nếu từ gió sanh; gió không có hình, không thể nắm bắt.’ Tôn giả lại nghĩ: ‘Tham dục này chỉ có từ tư tưởng sanh.’

Rồi Tôn giả nói kệ này:

Dục, ta biết gốc ngươi:

Ngươi từ tư tưởng sinh.

Nếu ta không tưởng ngươi,

Ngươi sẽ không hiện hữu.

Khi Tôn giả Đa-kỳ-xa nói bài kệ này, như tư duy về tưởng bất tịnh, ngay tại chỗ, tâm được giải thoát khỏi hữu lậu."

(ngưng trích)

Khi thấy các pháp vô sanh, thấy rõ tất cả các pháp không thể nắm bắt, thấy rõ gốc dục là do tư tưởng dựng lên, ngài Đa-kỳ-xa giải thoát ngay tức khắc. Sau khi hai ngài A-nan và Đa-kỳ-xa đến chỗ Thế Tôn, mới kể mọi chuyện. Thế Tôn mới hỏi: “Nay ngươi tự giác thế nào?”

Kinh ghi lời ngài Đa-kỳ-xa bạch Phật: “Sắc không bền vững, cũng không chắc chắn, không thể trông thấy, huyễn ngụy, không thật; thọ không bền vững, cũng không lõi chắc, cũng như đám bọt trên mặt nước, huyễn ngụy, không thật. Tưởng không bền vững, cũng không lõi chắc, huyễn ngụy, không thật, cũng như quáng nắng. Hành không bền vững, cũng không lõi chắc, giống như thân cây chuối, không có thật. Thức không bền vững, cũng không lõi chắc, huyễn ngụy, không thật.”

Nghĩa là, tất cả đều không bền vững, đều hư huyễn, đều không thật. Tôn giả Đa-kỳ-xa liền nói bài kệ này trình Phật (nói diệt ba pháp là diệt tham sân si):

"Sắc như chùm bọt nổi;/ Thọ như bong bóng nước;

Tưởng giống như quáng nắng;/Hành như thân cây chuối;

Thức là pháp huyễn hóa: /Đấng Tối Thắng nói vậy.

Tư duy điều này xong, / Quán sát hết các hành,

Thảy trống không, vắng lặng;/ Không có gì chân chánh,

Đều là do thân này:/ Đức Thiện Thệ dạy vây.

Cần phải diệt ba pháp./Thấy sắc là bất tịnh,

Thân này là như vậy,/Huyễn ngụy không chân thật,

Đó là pháp hư hại./Năm uẩn không bền chắc,

Đã biết là không thật,/Trở về đạo tối thượng.

Như vậy, Thế Tôn, đó là những gì mà con đã tỏ ngộ.” (ngưng trích)

Rồi Thế Tôn mới bảo là hãy quán năm uẩn là vô thường, vô ngã. Kinh ghi lời Phật rằng: “Lành thay, Đa-kỳ-xa! Ông khéo hay quán sát gốc năm thủ uẩn này. Nay ngươi nên biết, phàm là hành giả thì phải quán sát gốc năm uẩn này đều không chắc thật. Vì sao vậy? Khi Ta đang quán sát năm thủ uẩn này ở dưới bóng cây Bồ-đề mà thành Vô Thượng Đẳng Chánh Giác, cũng như những gì hôm nay ngươi quán.”

Khi Thế Tôn nói bài pháp này, sáu mươi Tỳ-kheo ngay trên chỗ ngồi mà được lậu tận, tâm giải thoát." (ngưng trích)

Xin chú ý câu Đức Phật nói: “...phàm là hành giả thì phải quán sát gốc năm uẩn này đều không chắc thật. Vì sao vậy? Khi Ta đang quán sát năm thủ uẩn này ở dưới bóng cây Bồ-đề mà thành Vô Thượng Đẳng Chánh Giác, cũng như những gì hôm nay ngươi quán.”

Lời dạy đó cũng là lý do bài Bát Nhã Tâm Kinh hình thành với nhiều lần nhấn mạnh rằng năm uẩn (sắc thọ tưởng hành thức) đều là Không, rằng, "chiếu kiến ngũ uẩn giai không, độ nhứt thiết khổ ách / soi thấy năm uẩn đều là không, do đó vượt qua mọi khổ đau ách nạn."

Kinh EA 35.9 cũng ghi rằng, “Khi Thế Tôn nói bài pháp này, sáu mươi Tỳ-kheo ngay trên chỗ ngồi mà được lậu tận, tâm giải thoát.”

Tuyệt vời, chỉ ngồi nghe thôi, liền có 60 nhà sư đắc quả A la hán.

Hy hữu, cực kỳ hy hữu. Đó là câu chuyện khi gặp một thiếu nữ đẹp mê hồn, ngài Đa-kỳ-sa xao xuyến, dao động, nhưng rồi nhờ quán sát thân tâm năm uẩn là không, là vô tự tính, liền thấy dục tâm dứt bặt và chứng quả A la hán. Và 60 nhà sư khác chỉ được nghe ngài Đa-kỳ-sa kể lại và được Đức Phật giải thích cũng liền chứng quả A la hán.

GHI CHÚ:

Kinh EA 35.9: https://suttacentral.net/ea35.9/vi/tue_sy-thang

Bình luận