Đạo Phật Ngày Nay

Thân Thiện Với Người Đồng Tính

Trong lịch sử nhân loại, người đồng tính thường bị kỳ thị, tùy theo phương xứ và thời kỳ; đặc biệt là khi Kitô giáo và Do Thái giáo lan rộng ở phương Tây, và Hồi giáo ở phương Đông, quan hệ đồng giới bắt đầu bị coi là "tội lỗi chống lại tự nhiên" và có thể bị tử hình. Trong thời kỳ gần hơn, có trường hợp hình phạt nổi bật là nhà văn Oscar Wilde bị bỏ tù khổ sai ở Anh năm 1895.

Phật Giáo là tôn giáo thân thiện và bao dung nhất với những người giới tính thứ ba hay giới tính không rõ ràng, gọi tắt là LGBT+ (đồng tính nữ hay nam, song tính, chuyển giới, bất định tính, vô tính...). Đơn giản vì Phật tử nhìn thấu suốt và thấy rõ không hề có cái gì gọi là tôi hay giới tính của tôi, hay bất kỳ nhãn hiệu nào, dù là nam hay nữ, Tây hay Tàu, Ta hay Nhật, Bắc hay Nam. Khi thấy thân và tâm đều là không, thì sẽ thấy không có cái gì để kỳ thị hay thân thiện, mà hiển lộ chỉ là một tâm bình đẳng, một tâm từ bi sinh khởi khi thấy các chúng sinh tội nghiệp đang bị lôi cuốn, bị chấp trước. Do vậy, mà gọi là thân thiện và bao dung.

Kinh SN 5.2 ghi lại rằng Tỳ kheo ni Soma khất thực ở Sāvatthi xong, sau bữa ăn, trên con đường khất thực trở về, Tỷ kheo ni đi đến rừng Andha để nghỉ ban ngày. Sau khi đi sâu vào rừng, ngài ngồi dưới một gốc cây để nghỉ ban ngày. Ác ma hiện ra chọc ghẹo Tỳ kheo ni Soma. Tỳ kheo ni Soma trả lời, rằng hễ còn thấy có tướng nam hay tướng nữ là sẽ còn bị rơi vào trò quay cuồng của Ác ma. Nghe vậy, Ác ma liền biến mất.

Trong lịch sử nhân loại, người đồng tính thường bị kỳ thị, tùy theo phương xứ và thời kỳ; đặc biệt là khi Kitô giáo và Do Thái giáo lan rộng ở phương Tây, và Hồi giáo ở phương Đông, quan hệ đồng giới bắt đầu bị coi là "tội lỗi chống lại tự nhiên" và có thể bị tử hình. Trong thời kỳ gần hơn, có trường hợp hình phạt nổi bật là nhà văn Oscar Wilde bị bỏ tù khổ sai ở Anh năm 1895.

Phật giáo nói rằng trong dòng chảy luân hồi vô tận, một chúng sinh đã từng làm nam, làm nữ, làm rất nhiều sinh linh khác nhau -- do vậy, kiếp này có người nào sinh ra là LGBT+ thì chỉ là kết quả của các duyên nghiệp quá khứ, không phải là tội lỗi hay bị trừng phạt. Tội chỉ khởi dậy là, theo ngũ giới, khi tà dâm, tức là hành vi tình dục sai trái, xúc phạm (chỗ này thì giải thích mênh mông, xin để cho các giảng sư)...

Chỉ riêng những người Pandaka (giới tính bất định) thì tăng đoàn không đón nhận. Nếu giới tính chuyển đổi đã rõ ràng, thì Đức Phật cho xuất gia, như trường hợp Kinh Pháp Cú bài kệ 43, về trường hợp của chàng trai Soreyya (đã có vợ và 2 con trai), khi nhìn thấy tướng đẹp uy nghi của Tỳ kheo Mahakaccayana thì tự nhiên khởi tâm luyến ái, tức thì chàng trai Soreyya hóa thành thân nữ. Mắc cỡ, cô Soreyya trốn tới thành Taxila, chỉ mang theo một chiếc nhẫn ấn như vật tùy thân để nhận diện. Tại Taxila, nàng kết hôn với một chàng trai giàu có và sinh hạ được hai người con trai. Một vị khách nhận ra cô và biết được câu chuyện tự nhiên chuyển giới của nàng, bèn khuyên nàng nên tìm đến Tỳ kheo Mahakaccayana để xin được tha thứ.

Cô Soreyya liền thỉnh mời ngài Mahakaccayana, dâng cúng thực phẩm, rồi thành tâm xin lỗi; ngay sau đó, thân thể nàng lại biến đổi trở về thành một người đàn ông. Cảm thấy chán ngán cuộc sống thế tục, Soreyya đã xuất gia gia nhập Tăng đoàn dưới sự dẫn dắt của Tỳ kheo Mahakaccayana, và một thời gian sau đã chứng đắc quả vị A la hán. Ngài Soreyya nói rằng ngài không còn quyến luyến đặc biệt nào cho bất kỳ ai nữa. Đức Phật đã xác chứng sự chân thật trong lời nói của Soreyya, và giải thích rằng sự vô chấp của vị tân A la hán là kết quả của sự giác ngộ và giải thoát hoàn toàn.

Do vậy, chúng ta dễ hiểu vì sao nhiều người LGBT+ tìm tới các thiền viện Hoa Kỳ.

.

Trên báo LGBTQ Nation hôm 22/5/2026, có bài viết của nhà báo Daniel Villarreal về một trường hợp như thế. Bài viết có tựa đề “Panic attacks & worry plagued this gay man’s life. Finding Buddhism changed everythin”" (Những cơn hoảng loạn và lo âu đã hành hạ cuộc đời người đàn ông đồng tính này. Tìm đến đạo Phật đã thay đổi tất cả). Tiêu đề phụ của bài là dòng chữ “Tôi đã nếm trải mọi món trên bàn tiệc cuộc đời mà chủ nghĩa khoái lạc queer dâng tặng, thế nhưng điều đó vẫn chưa giải đáp được câu hỏi: Tôi là ai?” Bài viết của nhà báo Daniel Villarreal được dịch toàn văn như sau.

Khi bước vào độ tuổi cuối 30s, V. Joseph bắt đầu trải qua một cuộc khủng hoảng tuổi trung niên, đi kèm với những nỗi lo âu, các cơn hoảng loạn và một cảm giác bất định đến mức không thể chịu đựng nổi về mục đích sống của chính mình. Joseph – người đang sinh sống tại vùng Vịnh San Francisco, California – chia sẻ với tờ LGBTQ Nation rằng anh từng cân nhắc chuyện kết hôn và sinh con; tuy nhiên, cũng giống như nhiều người thuộc cộng đồng queer (giới tính không định rõ) khác, anh cảm thấy rằng con đường đời "bình thường" và "dựa trên chuẩn mực dị tính" đó chẳng hề phù hợp với bản thân mình.

"Tôi đã từng tiệc tùng, và tôi cũng đã trải qua đủ mọi cuộc vui tình dục hoang dại, điên khùng," anh tiếp lời. "Tôi đã nếm trải mọi hương vị trên 'bàn tiệc cuộc đời' mà chủ nghĩa khoái lạc của cộng đồng queer mang lại cho tôi; thế nhưng, tất cả những điều đó vẫn không thể giải đáp được câu hỏi: 'Rốt cuộc thì tôi là ai?' Chừng đó vẫn chưa đủ, tôi cần nhiều hơn thế."

Anh chia sẻ rằng điều mình cần không hẳn là liệu pháp tâm lý, mà đúng hơn là một sự hỗ trợ về mặt tâm linh. Vì thế, anh bắt đầu tìm đến những cây bút thuộc "Thế hệ Beat" (Beat Generation) – những người từng truyền cảm hứng cho anh từ thuở thiếu thời – chẳng hạn như nhà thơ song tính Philip Glenn Whalen, nhà thơ đồng tính Allen Ginsberg, và nhà sinh thái học Gary Snyder. Cả ba nhân vật này đều đã góp phần phổ biến Phật giáo trên khắp nước Mỹ trong những năm 1950s và 1960s thông qua việc viết lách về những tác động tích cực của thiền định đối với cuộc sống của chính họ.

Phật giáo đã hiện hữu trên thế giới hơn 2.000 năm và bao gồm nhiều tông phái khác nhau; tuy nhiên, tất cả các tông phái này đều cùng chung quan điểm rằng khổ đau và sự bất mãn là những phần vốn dĩ không thể tách rời của cuộc sống, bắt nguồn từ lòng tham cầu những tiện nghi vật chất vĩnh cửu và những trải nghiệm giác quan đầy khoái cảm. Theo giáo lý nhà Phật, những khổ đau này hoàn toàn có thể được hóa giải thông qua việc thấu hiểu trí tuệ về bản chất thực tại, đối xử đầy đạo đức với mọi sinh vật khác, cũng như rèn luyện để đạt được sự tỉnh thức và sự tĩnh lặng sâu sắc hơn thông qua phương pháp thiền định.

Anh bắt đầu tự thực hành thiền tại nhà, nhưng lại gặp khó khăn trong việc duy trì thói quen này một cách đều đặn. Chẳng bao lâu sau, anh nhận ra rằng mình cần một tăng đoàn (sangha) – tức một nhóm những người cùng tu học Phật pháp – để hỗ trợ và nâng đỡ cho quá trình tu tập tâm linh của mình. Thế là anh bắt đầu tìm đến Trung tâm Thiền San Francisco (San Francisco Zen Center) – một trong những cộng đồng Phật giáo lớn nhất nằm ngoài khu vực châu Á.

Được thành lập vào năm 1962 tại một tòa nhà vốn trước đây từng là nơi cư trú dành cho phụ nữ Do Thái, trung tâm này ngày nay đã trở thành điểm đến chào đón hàng ngàn thiền sinh cùng hàng chục vị tu sĩ và thiền sư lỗi lạc đến từ khắp nơi trên thế giới.

Tại đây có một thư viện được bài trí trang trọng với các tác phẩm nghệ thuật và tượng Phật, nơi các thiền sinh khi ghé thăm thường tổ chức những buổi "thuyết pháp" (dharma talks); Một phòng ăn nơi những bữa chay đạm bạc (thường gồm cơm, đậu hũ và rau xanh luộc) được dọn trên những chiếc bàn dài để mọi người cùng dùng bữa trong chánh niệm; một khu vườn ngoài trời, một khoảng sân và một không gian trên sân thượng mang lại cảm giác tĩnh lặng; cùng một thiền đường rộng lớn ngập tràn ánh sáng tự nhiên và được bố trí những chiếc đệm ngồi.

Chính tại thiền đường này, Joseph thường ngồi tham dự các buổi zazen (tọa thiền) được tổ chức định kỳ vào lúc 5:30 giờ sáng hoặc 5:30 giờ chiều. Zazen là những buổi tọa thiền kéo dài, thực hiện trong tư thế ngồi với đôi mắt mở và hướng mặt vào tường (nhằm giảm thiểu các kích thích thị giác); đây được coi là hạt nhân cốt lõi của Thiền phái Soto (Tào Động) – một truyền thống có nguồn gốc xa xưa từ chính Siddhartha Gautama (Đức Phật Thích Ca Mâu Ni), người sáng lập ra tôn giáo này. Thiền phái Soto chú trọng việc tu dưỡng chánh niệm trong đời sống thường nhật thông qua việc thực hành ngồi tĩnh lặng, để cho mọi suy nghĩ và cảm xúc tự đến rồi tự đi mà không hề bám víu hay phán xét chúng.

Joseph chia sẻ rằng phương pháp thực hành này – vốn được anh duy trì ít nhất 30 phút mỗi lần, với tần suất một hoặc hai lần mỗi ngày – đã mang lại cho anh cảm giác về sự rộng mở và sự kết nối sâu sắc với vạn vật. Việc hiện diện trong cùng một căn phòng với những thiền giả zazen khác đã hun đúc trong anh ý thức về trách nhiệm cộng đồng; anh coi sự hiện diện của những người bạn đồng tu ấy là một nguồn cảm hứng "say đắm và đầy tiếp thêm sinh lực".

"Thế giới của những người đàn ông đồng tính [thường] vận hành xoay quanh trục sử dụng các chất kích thích: Hoặc là bạn đang ngồi ở quán bar, hoặc có thể bạn đang tham dự một buổi họp của hội giúp cai rượu có tên là "Alcoholics Anonymous" (Người nghiện rượu ẩn danh]; nhưng... dường như mối quan hệ với các chất kích thích đang định hình nên chính không gian mà trong đó, những người đàn ông đồng tính tìm thấy sự kết nối với nhau," Joseph nhận định.

“Phần lớn con người tôi của ngày xưa—cái phiên bản hay la cà ở các quán bar hay những chốn tương tự—là một kiểu người hào nhoáng, ồn ào và hướng ngoại. Điều đó thật tuyệt, và cũng rất vui,” anh tiếp lời, “nhưng cảm giác được hòa mình vào một cộng đồng những con người như thế này thực sự mang lại một sức mạnh to lớn... Chúng tôi có thể cùng nhau giữ sự tĩnh lặng, và thực sự trở thành một cộng đồng nơi tôi chẳng cần phải diễn xuất hay gồng mình làm gì cả.”

Khi Joseph lần đầu ghé thăm trung tâm, nơi đây đang tổ chức nghi lễ Sejiki thường niên (còn được biết đến là “Lễ hội Ngạ quỷ” [cúng cô hồn]. Trong nghi lễ này, những người tham dự sẽ đánh trống, hô vang, tụng niệm và triệu thỉnh những hương linh —hiện thân cho nỗi đau của sự thèm khát vô độ, lòng tham lam và chứng nghiện ngập.

Joseph chia sẻ rằng một quỷ đói (hungry ghost) nổi tiếng đã xuất hiện trong bộ phim hoạt hình thiếu nhi kinh điển "Spirited Away" (Vùng đất linh hồn) của đạo diễn Hayao Miyazaki sản xuất năm 2001, dưới hình hài của nhân vật “Vô Diện” (No Face). Đây là một sinh vật bí ẩn đeo mặt nạ đen, có thể phình to đến kích thước khổng lồ sau khi nuốt chửng toàn bộ thức ăn trong một đại sảnh tiệc; thế nhưng, hắn vẫn mãi không thể thỏa mãn—một sự bất mãn đến mức gây phẫn nộ—dù đã cố gắng mua chuộc tình cảm của người khác bằng cách ban phát những nắm vàng giả vô giá trị.

“[Sejiki] là một nghi lễ mang tính chiêm nghiệm về những ham muốn và nhu cầu của con người—về những phần sâu thẳm bên trong chúng ta luôn khao khát một điều gì đó. Và thật tình cờ, đó lại chính là ngày tôi xuất hiện tại đây,” Joseph kể lại. “Nghi lễ ấy đã tác động mạnh mẽ đến tôi, bởi tôi nhận ra rằng mình... đang phải chịu đựng một nỗi đau khiến bản thân trở nên chẳng khác nào một ngạ quỷ.”

Dần dà, Joseph bắt đầu ghé thăm trung tâm thường xuyên hơn để phụ giúp nấu các bữa ăn chiều trong tuần, cũng như chuẩn bị cho các buổi gặp gỡ và tọa đàm. Khi tham gia nhiều sự kiện hơn, anh bắt đầu làm quen với nhiều thành viên thuộc cộng đồng queer (LGBTQ+) khác tại trung tâm, cũng như những vị khách từ khắp nơi trên thế giới bay đến chỉ để ghé thăm nơi này.

Cùng nhau trong phòng ăn, họ lặng lẽ xếp hàng, lấy phần ăn của mình, ngồi vào bàn và kiên nhẫn chờ đợi cho đến khi có người gõ hai thanh gỗ vào nhau. Sau đó, tất cả cùng cất tiếng tụng niệm—một bài kệ nhằm tôn vinh nguồn gốc của thức ăn, giá trị dinh dưỡng mà nó mang lại, tâm ý của những người dùng bữa, cũng như cộng đồng đang hiện diện xung quanh họ.

“Sau đó, lại xuất hiện một khoảnh khắc đầy niềm vui; đó là một cảm giác như vừa trút bỏ được gánh nặng, khi mọi người cùng cất lời: ‘Ồ, chào buổi sáng! Chào buổi chiều!’” Joseph chia sẻ. “Cảm giác cứ như thể: ‘Ồ, xin chào, chúng ta đã cùng nhau giữ sự tĩnh lặng trong suốt một khoảng thời gian dài rồi,’ và giờ đây, chúng ta như được giải tỏa để bước vào những cuộc trò chuyện. Tôi vô cùng yêu thích khoảnh khắc ấy... bởi vì ở đó tụ họp rất đông người, tôi luôn có cơ hội gặp gỡ những gương mặt mới, hội ngộ những người bạn cũ... và tôi liên tục cảm thấy ngạc nhiên trước những câu chuyện đời mà mọi người chia sẻ cùng tôi trong những bữa ăn đó.”

“Đó là những người trẻ tuổi lẫn người cao tuổi; là nam giới, nữ giới, người chuyển giới và những người thuộc cộng đồng queer,” Joseph nói. “Dường như mọi tầng lớp trong xã hội đều hiện diện ở đó; mọi người rất cởi mở khi chia sẻ những câu chuyện đời đầy sức lay động—những câu chuyện vừa sâu sắc, vừa hài hước, lại vừa chất chứa nỗi buồn, và bao hàm tất cả những cung bậc cảm xúc ấy.”

Trung tâm này cung cấp các nhóm thực hành chuyên biệt (affinity sanghas) dành cho Phật tử chuyển giới, người thuộc các nhóm sắc tộc thiểu số (BIPOC: da đen, bản xứ, da màu), người đang trong quá trình cai nghiện, cùng nhiều nhóm đối tượng khác; các khóa tu dưỡng giữa thiên nhiên và ngoài trời tại Trung tâm Thiền Tassajara ở Thung lũng Carmel và Trang trại Green Gulch tại Quận Marin; các buổi trà đạo; thực hành thư pháp; các lớp học thể dục chuyển động chậm Butoh; đêm thơ ca; cũng như vô số lớp học trực tiếp và trực tuyến với các chủ đề đa dạng—từ cách đối phó với nỗi đau mãn tính, thực hành sự bình an ngay trong môi trường nhà tù, hay chuyển hóa nỗi sợ hãi và cơn giận dữ, cho đến những bài học nhẹ nhàng hơn về tụng niệm, yoga và cách lắng nghe, thấu hiểu tiếng hót của các loài chim.

Đối với Joseph, Phật giáo đã trở nên gắn kết mật thiết với bản dạng giới queer của anh, bởi anh xem thiền định như một lời mời gọi để trải nghiệm và cảm nhận cuộc sống đúng như bản chất vốn có của nó—không phán xét, không dán nhãn—để nhìn nhận và chấp nhận trọn vẹn những gì đang diễn ra ngay trong khoảnh khắc hiện tại này. Anh chia sẻ rằng hành trình công khai giới tính bản thân (coming out) mà những người thuộc cộng đồng queer thường trải qua chính là quá trình đối diện và chấp nhận một sự thật: rằng cuộc sống hiện tại, bản dạng hay những nhãn mác xã hội mà họ đang mang không phải lúc nào cũng thực sự hòa hợp với những cảm nhận sâu thẳm đang diễn ra bên trong cơ thể họ ngay tại thời điểm hiện tại.

Mặc dù ban đầu tìm đến thiền định với mong muốn tìm kiếm sự bình an trong tâm trí, Joseph (hiện đang ở độ tuổi 40) cho biết chính quá trình thực hành này đã giúp anh trở nên mềm mỏng hơn, mở rộng thêm không gian cho trái tim và tâm trí, giúp anh bớt phản ứng gay gắt hay hành động bốc đồng trước các tác động từ bên ngoài. Anh gọi trạng thái này là một “vùng đệm bảo vệ”—một không gian giúp anh có thêm thời gian để suy ngẫm giữa khoảnh khắc anh tiếp nhận những sự kiện từ thế giới bên ngoài và khoảnh khắc anh đưa ra quyết định về những hành động tiếp theo của chính mình. “Có lẽ tôi vẫn chọn trở thành một kẻ khốn nạn,” anh nói, “nhưng chỉ cần có thêm vỏn vẹn 50 mili giây thôi cũng thường là đủ để tôi kịp nhận ra và tự nhủ: ‘Này, mình không muốn nói điều đó đâu; mình sẽ chỉ giữ im lặng thôi, mình sẽ chỉ mỉm cười thôi; mình muốn nói một điều gì đó khác biệt, thứ sẽ giúp gắn kết tất cả chúng ta lại với nhau.’ Khoảng đệm tỉnh thức nhỏ nhoi ấy mang lại cho tôi chút thời gian để đưa ra những lựa chọn khác biệt trong lời nói và hành động của mình, cũng như trong cách tôi tương tác và hiện diện giữa thế giới của những con người.”

“Tôi không còn thiền định chỉ vì bản thân mình nữa,” anh chia sẻ. “Đây không còn là một sự thực hành mang tính ích kỷ. Lý do—lý do của riêng tôi khi thiền định, cũng như lý do của rất nhiều người thực hành khác—chính là: giờ đây, tôi thiền định vì tất cả mọi người xung quanh.”

“Khi tôi ngồi xuống chiếc đệm thiền sáng nay, đó không phải là vì bản thân tôi; đó là vì lợi ích của tất cả mọi người khác trên thế giới—để tôi có thể hiện diện trước thế giới này theo một cách khác biệt hơn, và để tại góc nhỏ của thế giới nơi tôi có thể tạo ra ảnh hưởng và kiểm soát, có thể nảy nở thêm chút ít sự bình an và tâm thái thản nhiên, tĩnh tại. Thế là, một hành trình đã diễn ra: từ tâm thế ‘Tôi đang gặp khủng hoảng, tôi cần được giúp đỡ,’ chuyển sang ‘Có điều gì đó đã thay đổi. Có điều gì đó đã trở nên mềm mại hơn—có lẽ tôi đã nhận được sự giúp đỡ ấy rồi,’ và giờ đây, sự thực hành này đã hướng tới một điều gì đó vĩ đại hơn nhiều.” (1)

GHI CHÚ:

(1) Nguồn: https://www.lgbtqnation.com/2026/05/attacks-worry-plagued-this-gay-mans-life-finding-buddhism-changed-everything/

Bình luận