Đạo Phật Ngày Nay

Đức Phật dạy: hãy tự độ và lợi tha

Đức Phật không đặt vấn đề Đạo Phật dành cho ai. Bởi vì, Đức Phật nói rằng cho dù Ngài có ra đời hay không, Pháp vẫn thường trực có trong ba cõi sáu đường, khi hiểu rằng Pháp là quy luật vận hành của vũ trụ, là luật Duyên Khởi, và tác động của nghiệp. Như thế, chúng sinh nào xa lìa tham sân si thì sẽ giải thoát. Do vậy, trong rất nhiều Kinh Bản Sanh, kể về những thời kỳ Đức Phật Thích Ca chưa ra đời, khi Ngài còn là Bồ Tát, người ta gặp rất nhiều vị Phật Độc Giác (còn gọi là Bích Chi Phật), nghĩa là những vị tự giải thoát khi sống thuận theo Pháp để xa lìa tham sân si. Trong khi đó, khi hiểu Pháp là lời dạy của Đức Phật Thích Ca Mâu Ni, thì đây là con đường giải thoát được nói rõ trong Bát Chánh Đạo.

Nơi đây, Đức Phật Thích Ca đặt vấn đề cụ thể, rằng tứ chúng Tăng, Ni và cư sĩ hãy tự độ và lợi tha. Nhưng ngay ở mức tự độ cũng phải tu dưỡng cho nghiêm túc, như ghi trong Kinh AN 7.68 về lời Đức Phật dạy các tu sĩ (Tăng, Ni) về hai hạng Tỳ kheo, theo bản dịch của Thầy Minh Châu:

Có hai hạng người sau khi hiểu nghĩa, sau khi hiểu pháp đã thực hành pháp; tùy pháp: một hạng người thực hành với mục đích tự lợi, không có lợi tha; một hạng người thực hành với mục đích tự lợi và lợi tha. Hạng người này thực hành với mục đích tự lợi, không có lợi tha, do sự việc ấy, đáng bị quở trách. Hạng người này thực hành với mục đích tự lợi và lợi tha, do sự việc ấy, đáng được tán thán. Như vậy, này các Tỷ-kheo, đối với Tỷ-kheo, loài Người được biết theo hai hạng. Như vậy, này các Tỷ-kheo, là Tỷ-kheo biết hạng người thắng liệt.” (1)

Có thể tóm tắt ngắn gọn, theo Kinh này, thành hai phẩm chất Trí Tuệ và Từ Bi của người tu: Trí tuệ để hiểu Pháp, hành Pháp; và Từ bi để dùng Pháp làm lợi ích cho người khác. Trong kinh AN 7.68, Đức Phật phân ra nhiều hạng người tu tập khác nhau: những người tu tập chỉ vì lợi ích của chính mình; những người tu tập chỉ vì lợi ích của người khác; những người tu tập không vì cả hai; và cuối cùng là những người tu tập vì lợi ích của cả hai bên. Trong số đó, Đức Phật tán dương người tu tập theo cách vừa mang lại lợi ích cho chính mình (tự độ), lại đồng thời mang lại lợi ích cho người khác (lợi tha). Lý tưởng này thể hiện một nguyên tắc cốt lõi của Phật giáo: sự phát triển tâm linh chân chính không bao giờ tách rời khỏi sự an lạc và lợi ích của thế gian. Trong các thời kỳ về sau, nhiều trăm năm sau, nhiều luận sư nâng cao lý tưởng lợi tha thành Bồ tát giới: xem tất cả chúng sanh như cha mẹ nhiều đời của mình, và do vậy phát nguyện độ sinh tới mức tận cùng.

Trong mọi trường hợp, tự độ là phải tự tu dưỡng nghiêm túc, sẽ phải vun bồi Giới, Định, Tuệ. Đó là các phẩm chất giúp thanh tịnh hóa hành vi, làm vững chãi tâm trí, và giải thoát vị ấy khỏi tham, sân, si. Nếu thiếu vắng sự chuyển hóa nội tâm này, vị ấy sẽ không thể nào hướng dẫn hay nâng đỡ người khác một cách đáng tin cậy. Nếu người tu còn phiền não, tất nhiên sẽ gây tổn hại cho người khác, ngay cả khi mang những thiện ý. Do đó, tự tu dưỡng chính là cốt tủy.

Đức Phật trong Kinh vừa dẫn cũng nhấn mạnh rằng người tu tập không nên chỉ đắm chìm trong việc giải thoát cho riêng mình. Vị Tăng Ni này cần phải: Dạy Chánh pháp khi thích hợp, giúp người khác tu dưỡng Chánh niệm, tâm thiện và tâm từ bi, và tự bản thân vị Tăng Ni này phải sống như một tấm gương về thiện pháp, từ bi và an lạc. Như thế, hiển lộ của Trí Tuệ và Từ Bi chính là một nếp sống gương mẫu của tự độ và lợi tha.

Trong khi đó, Đức Phật dạy trong Kinh AN 8.25 Sutta rằng các cư sĩ cũng phải tự thân bước vào đời sống của tự độ và lợi tha. Trong Kinh này, Đức Phật dạy về nếp sống lý tưởng của cư sĩ, theo bản dịch của Thầy Minh Châu:

Này Mahànàma, khi nào nam cư sĩ tự mình thành tựu lòng tin và khích lệ người khác thành tựu lòng tin; khi nào tự mình giữ giới và khích lệ người khác giữ giới; khi nào tự mình bố thí và khích lệ người khác bố thí; khi nào tự mình muốn đi đến yết kiến các Tỷ-kheo và khích lệ người khác đi đến yết kiến các Tỷ-kheo; khi nào tự mình muốn nghe diệu pháp và khích lệ người khác nghe diệu pháp; khi nào tự mình thọ trì những pháp đã được nghe và khích lệ người khác thọ trì những pháp đã được nghe; khi nào tự mình suy nghĩ đến ý nghĩa các pháp đã thọ trì và khích lệ người khác suy nghĩ đến ý nghĩa các pháp đã thọ trì; sau khi tự mình biết nghĩa, biết pháp, thực hiện pháp đúng Chánh pháp, khích lệ người khác sau khi biết nghĩa biết pháp, thực hiện pháp đúng Chánh pháp. Cho đến như vậy, này Mahànàma, là nam cư sĩ thực hành vì tự lợi và lợi tha.” (2)

Trong Kinh vừa dẫn, Đức Phật dạy rằng cư sĩ tự độ nghĩa là vun bồi những nền tảng cho một đời sống thiện lành: Tin vững chắc nơi Đức Phật, Giáo pháp và Tăng đoàn; Đức hạnh giữ gìn qua Ngũ giới; Lòng bố thí, cúng dường rộng lượng; Học, hiểu, thọ trì, tu dưỡng các pháp đã học; Buông xả, không bám víu, không chấp giữ; Trí tuệ thấu hiểu về các hành động và hậu quả của chúng (nghiệp); Giúp mọi người khác tu học Chánh pháp. Như thế là cư sĩ thực hành vì tự lợi và lợi tha.

Kinh AN 8.25 như thế đã dạy rằng hình thức tu tập cao thượng nhất của người cư sĩ chính là sự kết hợp hài hòa giữa việc tu dưỡng nội tâm và lòng từ bi hướng ngoại. Chăm sóc cho chính mình là để vun trồng nền tảng; còn chăm sóc cho tha nhân là để cho quả ngọt của sự tu tập được đơm hoa kết trái giữa thế gian này.

Tận cùng của lý tưởng đó là tự mình tu dưỡng và rồi giúp nhau hướng tới Niết Bàn. Đọc các bản kinh xưa, chúng ta thấy rằng các tranh cãi, bất đồng cũng nhiều lần xảy ra trong Tăng Đoàn thời Đức Phật. Nhưng trong mọi trường hợp bất đồng, hướng tới nên là hòa hợp để giúp nhau hướng tới Niết Bàn, như trong Kinh MN 103, chúng ta đọc thấy hiện tượng Tăng Đoàn bất đồng, tranh cãi về A Tỳ Đàm (Vi Diệu Pháp), theo lời Đức Phật:

“...các Tỷ-kheo, khi các Ông học tập trong các pháp ấy, trong tinh thần hòa đồng, hoan hỷ, không cãi lộn với nhau, có thể có hai vị Tỷ-kheo nói khác nhau về Thắng pháp (Abhidhamma). Ở đây, nếu các Ông nghĩ như sau: “Giữa các vị Tôn giả này, có sự sai khác về nghĩa, có sự sai khác về văn”; ở đây, Tỷ-kheo nào các Ông nghĩ là nhu thuận dễ nói hơn, hãy đến vị ấy nói như sau: “Giữa các Tôn giả có sự sai khác về nghĩa, có sự sai khác về văn. Về vấn đề này các Tôn giả phải biết có sự sai khác về nghĩa, có sự sai khác về văn như thế này. Các Tôn giả chớ có cãi lộn với nhau”. Rồi một Tỷ-kheo nào của phái bên kia mà các Ông nghĩ là nhu thuận dễ nói hơn, hãy đến vị ấy và nói như sau...” (3)

Trong kinh MN 103 vừa dẫn, Đức Phật đề cập đến một hiện tượng vốn rất quen thuộc qua mọi thế hệ: những tranh luận, bất đồng nảy sinh ngay trong cộng đồng những người tu tập. Thay vì tập trung vào việc ai đúng ai sai, Đức Phật đã định hình lại toàn bộ vấn đề này. Ngài mời gọi các vị Tỳ-kheo suy ngẫm về một câu hỏi sâu sắc hơn: Mục đích của đời sống tu tập theo Chánh pháp của chúng ta là gì? Câu trả lời thật rõ ràng—đó là để chứng đắc Niết-bàn, và để hỗ trợ lẫn nhau trên hành trình chứng đắc ấy. Qua hiện tượng tranh cãi được kể lại trong Kinh MN 103, chúng ta dễ dàng hiểu vì sao trong vài trăm năm sau, Tăng Đoàn chia làm hai mươi bộ phái, và khi nhìn tổng quan hơn, đó là hai hướng: Phật giáo Nam Tông và Phật giáo Bắc Tông.

Như thế, Đức Phật dạy rằng, tứ chúng Tăng, Ni, cư sĩ phải tu dưỡng để tự độ và lợi tha. Và Đức Phật nói rằng đối với các tranh cãi trong Tăng Đoàn về Thắng nghĩa, thì phải nắm lấy tiêu chuẩn là phải suy nghĩ rằng lời này, nghĩa này, văn này, pháp này có dẫn tới Niết Bàn hay không, nghĩa là, có xa lìa tham sân si hay không. Ngoài tiêu chuẩn hướng tới Niết Bàn, tất cả các tranh cãi khác đều không cần thiết.

GHI CHÚ:

(1) Kinh AN 7.68: https://suttacentral.net/an7.68/vi/minh_chau

(2) Kinh AN 8.25: https://suttacentral.net/an8.25/vi/minh_chau

(3) Kinh MN 103: https://suttacentral.net/mn103/vi/minh_chau

Bình luận