Đạo Phật Ngày Nay

Lễ Tắm Phật: Tấm Y Chư Thiên Cúng

Khi Đức Phật là khoảng trống thiêng liêng. Trong khoảng 400 năm đầu tiên sau khi Đức Phật nhập Niết-bàn (khoảng thế kỷ thứ V trước Tây Lịch đến thế kỷ thứ I trước Tây Lịch), nghệ thuật Phật giáo hoàn toàn không tạc tượng hay vẽ hình hài con người của Ngài. Giai đoạn này trong học thuật gọi là Thời kỳ Vô tượng (Aniconic Period).

Các tấm phù điêu trên đá xưa cổ nhất cho thấy Đức Phật từ hông mẫu thân nhô ra được chư thiên cầm vải đón và che thân Thái tử sơ sanh.

Hiện nay có chùa tại Việt Nam tổ chức Lễ Mộc dục (Tắm Phật) với hình tượng Thái tử Tất Đạt đa bảo tướng sơ sanh hoàn toàn không một mảnh y che thân. Câu hỏi chúng ta nêu lên nơi đây rằng: theo truyền thống xưa cổ nhất trong Lễ Vesak, hình tượng sơ sanh của ngài qua các tranh vẽ, qua các bức phù điêu có mang y che thân hay không?

Chúng ta có thể nhớ rằng, nghệ thuật Phật giáo xuất hiện rất lâu sau khi Đức Phật viên tịch, vì trong các thời kỳ xưa nhất, bốn chúng tăng, ni và cư sĩ đều tu học nghiêm túc, hẳn là không có thì giờ để bận tâm chuyện nghệ thuật. Thêm nữa, đó là thời kỳ chưa có giấy, mực nên học Phật rất là gian nan, khi phải học thuộc lòng để nhớ kinh, và bên cạnh học cho nhớ kinh là phải thực hành các pháp đã học. Do vậy, nghệ thuật (vẽ, nắn tượng, đắp phù điêu) là giai đoạn tới rất sau, và thường là khi xã hội đã xem nghệ thuật là sản phẩm được quý trọng, có thể giúp công cuộc hoằng pháp. Đặc biệt, đó là khi giới quý tộc như vua, quan tài trợ cho các công trình nghệ thuật.

Theo Tự Điển Bách Khoa Mở (Wikipedia) về nghệ thuật Phật giáo, có hai thời kỳ rõ rệt: thời kỳ Vô tượng, và thời kỳ Hữu tượng.

Thời kỳ Vô tượng (Aniconic Period)

Khi Đức Phật là khoảng trống thiêng liêng. Trong khoảng 400 năm đầu tiên sau khi Đức Phật nhập Niết-bàn (khoảng thế kỷ thứ V trước Tây Lịch đến thế kỷ thứ I trước Tây Lịch), nghệ thuật Phật giáo hoàn toàn không tạc tượng hay vẽ hình hài con người của Ngài. Giai đoạn này trong học thuật gọi là Thời kỳ Vô tượng (Aniconic Period).

Lý do của việc này xuất phát từ tư duy triết học: Đức Phật đã vượt thoát khỏi vòng sinh tử luân hồi, Ngài là hiện thân của Chân như, Tánh không, không thể bị giới hạn trong một hình tướng phàm trần phai úa theo thời gian. Vì vậy, để thể hiện sự hiện diện của Ngài tại các thánh tích như Sanchi (khu Đại Bảo Tháp ở Madhya Pradesh, Ấn Độ) hay Bharhut (ngôi làng thánh tích giữa quận Satna của Madhya Pradesh), các nghệ nhân xưa đã dùng các biểu tượng đầy ẩn dụ.

Dấu chân Phật (Buddhapada): Thường khắc hình bánh xe Pháp luân ở lòng bàn chân, tượng trưng cho việc giáo pháp của Ngài đã in dấu và lan tỏa khắp nhân gian.

Bánh xe Pháp luân (Dharmachakra): Tượng trưng cho bài giảng đầu tiên tại Vườn Lộc Uyển – chuyển vận bánh xe chánh pháp.

Tòa sen trống hoặc Cội Bồ-đề: Biểu thị khoảnh khắc Ngài thành đạo dưới cội cây thiêng, dù không có bóng dáng Ngài ngồi đó, nhưng "khoảng trống" trên tòa sen chính là sự tôn kính tối thượng.

Thời kỳ Hữu tượng (Iconic Period)

Nghệ thuật bắt đầu tạc tượng Đức Phật dưới hình dáng con người vào khoảng thế kỷ thứ I đến thứ II thế kỷ Dương Lịch, gắn liền với sự trỗi dậy của triều đại Kushan (Đế quốc Quý Sương). Bước chuyển mình này diễn ra đồng thời ở hai trung tâm nghệ thuật lớn: Vùng Gandhara và Vùng Mathura.

Vùng Gandhara (vùng Tây Bắc Ấn Độ cổ đại, nay thuộc Pakistan và Afghanistan): Do tiếp xúc sâu sắc với văn hóa Hy Lạp sau cuộc viễn chinh của Alexander Đại đế, các nghệ nhân ở đây đã tạc tượng Đức Phật với gương mặt thanh tú, mũi cao, tóc xoăn gợn sóng và nếp áo choàng dày kiểu phương Tây (như thần Apollo).

Vùng Mathura (trung tâm Ấn Độ): Tạc tượng Phật dựa trên hình mẫu các vị thần dạ xoa lực lưỡng (Yaksha) của bản địa, với vóc dáng mạnh mẽ, áo mỏng áp sát vào thân.

Sự chuyển biến này cũng phù hợp với sự phát triển của Phật giáo Đại thừa, khi nhu cầu quán tưởng, lễ bái và kết nối tâm linh thông qua một tôn tượng cụ thể trở nên gần gũi hơn với đại chúng.

Hình ảnh Thái tử Tất Đạt Đa trong lễ tắm Phật thời xưa nhất có lẽ (các học giả nói có lẽ, vì không thể xác định chính xác) là trong thời nghệ thuật Gandhara: sự xuất hiện của Thái tử Tất Đạt Đa sơ sinh (Infant Buddha) trong phân cảnh "Lễ tắm Phật" (Mộc dục).

Khi nghệ thuật Gandhara phát triển (khoảng thế kỷ 2 và 3 Dương Lịch), phân cảnh này đã được cụ thể hóa bằng hình người. Các bức phù điêu bằng đá xưa cổ nhất cho thấy Thái tử Tất Đạt Đa sơ sinh được tạc ở ngay vị trí trung tâm, xuất hiện từ nơi hông của thân mẫu, và CHƯ THIÊN CẦM TẤM VẢI đón hài nhi Thái Tử. Như thế, hài nhi Thái Tử Tất Đạt Đa đã có tấm y che thân ngay khi ra đời.

Hai vị thần lớn trong thần thoại Ấn Độ được Phật giáo tiếp nhận là Phạm Thiên (Brahma) và Đế Thích (Indra) đứng hai bên, cung kính cầm bình nước dội nhẹ từ trên cao xuống để làm lễ tẩy trần cho bậc Chính Đẳng Chính Giác tương lai. Kỹ thuật chạm khắc mang đậm phong cách Hy Lạp-La Mã từ nếp váy (dhoti) cho đến tư thế chuyển động của các nhân vật xung quanh.

Theo Kinh Trung A Hàm MA 32 (Kinh tương đương trong Tạng Nikaya là MN 123), bản dịch của Thầy Tuệ Sỹ, ghi lời ngài A Nan, trích:

Con nghe rằng, khi Đức Thế Tôn mới sanh ra, có bốn vị thiên tử, tay cầm tấm vải rất mịn đứng trước thai mẹ, làm cho người mẹ hoan hỷ, tán thán rằng: “Đồng tử này rấy kỳ diệu, rất hy hữu, có đại như ý túc, có đại oai đức, có đại phước hữu, có đại oai thần’. Nếu như Đức Thế Tôn mới sanh ra, có bốn vị thiên tử, tay cầm tấm vải rất mịn đứng trước thai mẹ, làm cho người mẹ hoan hỷ, tán thán rằng: “Đồng tử này rấy kỳ diệu, rất hy hữu, có đại như ý túc, có đại oai đức, có đại phước hữu, có đại oai thần’. Thì con xin thọ trì pháp vị tằng hữu này của Đức Thế Tôn.

“Con nghe rằng, khi Đức Thế Tôn vừa mới sanh ra, liền đi bảy bước không khiếp sợ, không kinh hãi, quan sát các phương. Nếu Thế Tôn vừa mới sanh ra, liền đi bảy bước không khiếp sợ, không kinh hãi, quan sát các phương; thì con xin thọ trì pháp vị tằng hữu này của Đức Thế Tôn.” (1)

Phần trích dẫn kinh trên cho thấy sơ sanh Thái Tử Tất Đạt Đa có tấm y che thân, chứ không phải không có tấm y nào.

Trong 3 tấm phù điêu xưa cổ nhất tạc trên đá còn giữ được ở các viện bảo tàng đều cho thấy bố cục tương tự, nhưng có nhiều chi tiết khác nhau. (2)

Trong tấm ghi số 1 (trên cùng), là tấm phù điêu có niên đại ước chừng từ thế kỷ 2 hay 3 Dương Lịch, tạc họa rất rõ khoảnh khắc đản sinh thần kỳ. Em bé sơ sinh nhô ra từ mạn sườn phải của Hoàng hậu Ma Da và được vị thần hộ pháp quỳ đón với tấm vải vô cùng cung kính. Tấm phù điêu này lưu giữ ở Bảo tàng Victoria and Albert Museum tại London, Anh quốc.

Tấm phù điêu số 2 lưu giữ ở Bảo Tàng Lahore Museum, Pakistan.

Tấm phù điêu số 3 lưu giữ ở Bảo Tàng The Art Institute of Chicago. (2)

Đức Phật sơ sinh được tạc xuất hiện đồng thời ở hai tư thế khác nhau trên cùng một không gian phù điêu để kể lại câu chuyện theo trình tự thời gian. Đầu tiên là cảnh Ngài nhô ra từ mạn sườn phải của Hoàng hậu Ma Da và được chư thiên dùng một tấm vải phủ để đón lấy. Ngay sau đó, Ngài xuất hiện thêm một lần nữa ở dưới chân Hoàng hậu trong tư thế đứng thẳng bằng cả hai chân, hai tay buông thõng tự nhiên (hoặc bắt ấn Cát tường - Abhayāmudra) để thực hiện 7 bước đi đầu tiên.

Các tượng Phật sơ sinh độc lập (không phải phù điêu), đứng đơn lẻ, còn lại ngày nay đa số có niên đại trễ hơn nhiều. Các tài liệu bào tàng nói có lẽ tượng cổ nhất nhân loại còn giữ được hiện ở Miho Museum, niên đại thế kỷ 7 (thời Asuka, Nhật Bản). Tượng mô tả đúng tư thế một tay chỉ trời, một tay chỉ đất, được dùng trong lễ Phật Đản Nhật Bản (Hanamatsuri).

Có tượng nào cổ hơn thế kỷ thứ 7 không? Có thể các nghệ nhân đã từng làm các tượng Phật sơ sinh đứng đơn lẻ bằng đồng ở Ấn Độ hoặc Trung Á từ thế kỷ 3–6, nhưng phần lớn đã biến mất qua chiến tranh. Hiện nay, giới khảo cổ thường xem các phù điêu Gandhara thế kỷ 2–3 là bằng chứng cổ nhất còn tồn tại về hình tượng Phật sơ sinh đứng. Các tượng độc lập dùng cho nghi lễ Tắm Phật còn nguyên vẹn mà chúng ta biết chắc chắn thường thuộc thế kỷ 7 trở về sau.

Câu trả lời ngắn gọn cho câu hỏi nơi đầu bài là: hình tượng Phật sơ sanh xưa nhất mà ngành khảo cổ tìm được là trên các tấm phù điêu tạc trên đá, và Thái tử sơ sanh có ngay tấm vải do chư thiên cúng che thân.

GHI CHÚ:

(1) Kinh MA 32: https://suttacentral.net/ma32/vi/tue_sy

(2) Có lẽ tấm phù điêu xưa cổ nhất (số 1): https://collections.vam.ac.uk/item/O65750/birth-of-the-buddha-relief-panel-unknown

Nguồn hình phù điêu ở Bảo tàng Lahore (2): https://lahoremuseum.punjab.gov.pk/index.php/taxonomy/term/10

Nguồn hình phù điêu ở The Art Institute of Chicago (3): https://kids.britannica.com/students/assembly/view/194788

Bình luận