- KINH TỤNG HẰNG
NGÀY
- TỔNG HỢP 49 KINH CĂN
BẢN CỦA HAI TRUYỀN THỐNG PHẬT GIÁO
- NAM TÔNG VÀ BẮC
TÔNG
- KINH
HIỀN NHÂN
- Thứ
chín
Lúc
bấy giờ, Đức Phật lưu trú tại nước Xá-vệ với một ngàn hai trăm
năm mươi vị Tỳ-kheo.
Cư sĩ Tu-đạt ngày ngày thân hành phụng sự Phật. Ông
vâng lời Ngài giữ năm giới: không sát hại, không trộm cắp, không tà
dâm, không nói dối và không uống rượu. Vốn là một người hiểu đạo
đúng đắn, ông luôn phát tâm bố thí, cứu giúp kẻ bần cùng khốn khổ,
nên người ta tặng ông tên Cấp Cô Độc, nghĩa là nuôi giúp những kẻ
cô đơn, khốn cùng. O
Cư
sĩ muốn lập một Tịnh xá cúng dường Đức Phật và Tăng đoàn. Ông đi
nhiều nơi tìm đất cuối cùng chỉ có khu vườn của Thái tử Kỳ-đà là
vừa ý ông. Khu vườn ấy bằng phẳng, rộng hơn 80 khoảnh, cách thành
không xa mấy. Trong vườn trồng nhiều cây có quả, đây đó đều có suối
chảy, ao tắm rất tiện lợi, sạch sẽ, không có kiến bọ muỗi ruồi.
Nhận
thấy chỗ đất ấy có thể lập Tinh xá, cư sĩ Tu-đạt liền đến năn nỉ
Thái tử Kỳ-đà để mua lại. Thái tử mỉm cười đáp:
-
Nếu ông có thể đem vàng ròng lót cho kín, không chừa một khoảnh đất nào
trong vườn, thì với giá ấy tôi sẽ bán khu vườn này cho ông.
Cư
sĩ Tu-đạt vui vẻ gật đầu, rồi sai người đem voi chở vàng trong kho của
mình ra và cùng nhau lát, trong giây phút đã hơn 40 khoảnh đất.
Thái
Tử Kỳ-đà vừa ngạc nhiên vừa thán phục, đứng nhìn ngẫm nghĩ: “Chắc
Đức Phật có đạo lý gì cao thâm lắm nên mới khiến cho ông này trọng
đạo khinh tài đến thế.”
Thái
Tử phát tâm nói rằng:
-
Thôi đủ rồi, đừng chở vàng tới nữa. Bây giờ thì thế này: Vườn đất
thuộc về ông, ông lập Tịnh Xá cúng Phật. Còn tôi thì cúng cho Đức Phật
và Tăng đoàn tất cả những cây trái trong vườn.
Cư
sĩ ưng thuận. Hai người đồng lòng cùng lập tịnh xá và đồng đi rước
Phật dâng cả vườn nhà cây trái cho Ngài.
Đức
Phật nhận lời, đến Tịnh xá cư trú với một ngàn hai trăm năm mươi vị
Tỳ-kheo.
Từ
đó về sau, chỗ ấy gọi là Kỳ Thọ Cấp Cô ĐộcViên. O
Lúc
ấy, đức vua trong nước là Ty-tiên-nặc rất sùng kính đạo pháp. Ông trị
nước an dân theo lời Phật dạy, nhờ đó, lúa thóc được mùa, bá tánh lạc
nghiệp, đạo Phật ảnh hưởng sâu rộng. Sự việc đó đã làm cho các
hàng ngoại đạo, tà giáo ganh ghét Đức Phật. Họ bày mưu hại Đức Phật
bằng cách giết thiếu nữ Tôn-đà-ly, con cháu họ, lén chôn trong khuôn
viên Tịnh xá rồi phao tin vu khống Đức Phật và giáo đoàn đã giết người
vô tội, hòng làm giảm ảnh hưởng của Đức Phật. Nhưng việc ác đã hại
kẻ ác.
Sau khi rõ âm mưu của ngoại đạo, vua với quần thần
đến đảnh lễ Đức Phật. Lúc bấy giờ cư sĩ Cấp Cô Độc cùng các vị
thành tín và nhân dân trong nước đều đến hầu Phật, làm lễ xong, mỗi
người đều ngồi qua một bên. O
Nhà
vua đứng dậy, chắp tay thưa:
-
Bạch Đức Thế Tôn, khi nghe lời vu oan của ngoại đạo ai cũng lấy làm
ngạc nhiên cả. Thực chỉ có Phật là chân thật hoàn toàn, thanh tịnh
không lường. Bạch Ngài! song chẳng hay vì nhân duyên gì mà xảy ra việc
không hay như thế !
Đức
Phật chậm rãi bảo vua Ty-tiên-nặc:
-
Này đại vương ! Con người sở dĩ có tính vu khống là do lòng tham lam, tật
đố mà ra. Song việc ấy trước kia đã từng xảy ra, chứ chẳng phải mới
đây mà thôi.
Vua
cúi đầu:
-
Bạch đức Thế Tôn, chúng con muốn nghe việc của kiếp đó.
Nhân
đó, Đức Phật dạy:
-
Này Đại vương ! Ta đã từng trải qua bao nhiêu vô số kiếp tu hành, vì
đạo Bồ-tát, đem lòng từ bi độ thoát cho mọi loài.
O
-
Thời
xưa có một nước tên Bồ-lân-nại, nhân dân đông đúc, sự sinh hoạt thật
là phồn thịnh.
Trong
nước có một người Phạm-chí tên là Cù-đàm, tài trí thông minh bậc nhất.
Ông có ba người con, đứa con út có một thân hình đoan chính, đẹp đẽ
không ai bằng, tên là Hiền Nhân.
Hiền
Nhân thuở nhỏ rất chăm chỉ học hành. Lớn lên, tài, nghệ hơn người,
làu thông kinh sử, và có tiết hạnh, giới đức đặc biệt. Hiền Nhân
tánh từ bi, lại rõ việc tai nạn họa phúc, bào chế thuốc men, không gì
không biết.
Sau
khi ông Cù-đàm qua đời, hai người anh của Hiền Nhân trở nên tham lam,
ích kỷ và ganh tỵ. Hiền Nhân xin phép mẹ xuất gia, học đạo, chẳng bao
lâu đã giác ngộ tự tâm. Người lại trừ được năm món dục lạc: Mắt
không còn tham đắm hình sắc trần gian. Tai không còn tham đắm âm thanh vi
diệu. Mũi không nhiễm mùi hương ngây ngất. Lưỡi không ưa thích vị
ngon, và Thân không còn ưa lụa là và cảm giác êm dịu. O
Hiền
Nhân hay dùng trí huệ phương tiện tuỳ thuận giáo hóa thiên hạ, khuyên
người làm mười điều lành, thảo thuận cha mẹ, vâng thờ sư trưởng.
Những ai lòng nghi hoặc, Hiền Nhân đều giáo hóa họ tư tưởng đạo đức.
Người dạy họ rằng: Có sanh ắt có tử, làm lành gặp lành, làm dữ mắc
họa, tu đạo đắc đạo, là lẽ dĩ nhiên. Thấy người nào bị nguy ách,
Hiền Nhân độ cho thoát khỏi. Ai bị bệnh tật thì Người ban cho thuốc
thang. Ai đói khổ thì Người ban cho vật thực. Ở đâu có nước lụt, cháy
nhà, nắng hạn nguy hiểm, nếu có Hiền Nhân đến đều được bình an.
Bao nhiêu độc hại đều bị tiêu diệt. Khi bấy giờ có một nước lớn,
nhân dân giàu có đông đúc, yên vui. Vua nước ấy tên là Lâm Đạt thường
giao trách nhiệm triều chính cho bốn quan cận thần. Nhưng bốn quan cận thần
ấy chuyên làm những việc tà siểm, dâm ô, gian dối và bóc lột đủ điều.
Dân chúng thiệt hại, ta thán mà vua không hề hay biết. Hiền Nhân thấy thế
lấy làm thương xót, người cầm bát ra ngoài thành ở trọ lại nhà của
đạo nhân Sa-đà bảy ngày. Qua ngày thứ tám Hiền Nhân mới vào thành khất
thực. O
Khi
đó nhà vua đứng trên thành trông thấy Hiền Nhân tuổi còn trẻ mà đã
có cái phong vị đoan chánh ung dung, dáng đi có vẻ phi thường liền sanh lòng
kính mến. Ngài liền bước xuống và đến
thưa hỏi:
-
Xin đạo nhân lưu trú tại đây. Tôi có Tịnh xá ngoài thành, đạo
nhân nên ở lại trong ấy. Tôi sẽ
xin cung cấp những thứ cần dùng.
Hiền
Nhân nhận lời. Vua từ giã về cung bảo Phu Nhân:
O
-
Vị đạo sĩ ấy không phải người thường, sáng mai Ngài nên đến ra mắt
Ta.
Phu
Nhân lấy làm vui vẻ và con chó của vua Tân-kỳ nằm dưới gầm giường
cũng mừng rỡ ngoắc đuôi.
Sáng
hôm sau, Hiền Nhân vào cung, nhà vua và Phu nhân ra nghênh tiếp làm lễ thỉnh
Ngài thọ thực.
Thọ
thực xong vua mời Ngài ra tinh xá. Hiền Nhân tiện dịp nói cho vua hiểu
phép tắc trị nước an dân. Nhà vua vui mừng quá, nhân đó thỉnh Người
phụ lực cùng bốn vị đại thần chung lo việc nước, Hiền Nhân nhận lời.
Bốn
quan cận thần vốn quen ăn chơi, khiếp nhược, không hết lòng với quốc
gia, chỉ biết tham ô bóc lột dân chúng. Một ông thường nói “Sau khi người
ta chết, thần hồn sẽ diệt mất
không sinh trở lại nữa.” Ông
thứ hai chủ trương: “Nghèo, giàu, vui,
khổ cũng đều do trời định.” Một
ông lại nói: “Làm lành không được phúc cũng như làm ác không có tai họa
gì.” Ông thứ tư lại ỷ mình biết
xem tinh tú. Không ông nào lo việc triều chính, ông nào cũng tham lam siểm nịnh.
Còn Hiền Nhân từ khi giúp nước, làm
nhiều điều lợi ích. Hiền Nhân rất thông minh, tài cao, sức mạnh lại
có lòng nhân nghĩa, cung kính. Hiền Nhân ít nói mà hễ nói gì thì miệng
luôn nở nụ cười nên trong khi đối đãi người, không làm phật ý một
ai. O
Người thật là trong sạch và thiểu dục, không tham sắc,
giản dị; phép trị dân không làm phiền ai. Người lại biết được cả
tai hoạ có thể xảy ra, cứu người khỏi chết, thương dân như con. Người
lấy đạo đức dạy dân, khuyên họ không nên say sưa săn bắn, chài lưới
chim cá và loài dã thú, không sát sinh, trộm cắp, dâm ô dối trá, dèm siểm,
hỗn ẩu, gian nịnh, ganh ghét, gây sự, kình lộn, giận dữ, yêu nghiệt
và nghi ngờ. O
Bấy
giờ nhân dân trong nước nhờ Hiền Nhân giáo hóa đều trở nên hiền lương.
Từ khi Hiền Nhân giúp vua, việc triều chính, nước nhà yên ổn, mưa thuận
gió hòa, mùa màng sung túc, các quan đều thừa hành pháp luật không dám
nhiễu hại nhân dân nữa.
Cũng
vì thế nên bốn quan cận thần đem lòng ganh ghét, đố kị, và mưu hại
Hiền Nhân.
Họ
hùn rất nhiều vàng bạc mua lòng Hoàng hậu và bày cách cho Hoàng hậu đặt
điều vu khống lên vua rằng Hiền Nhân có ý tư thông với bà và âm mưu sát
hại vua để đoạt ngôi. Vì vốn thương Hoàng hậu, vua đã cả tin và lập
kế với hoàng hậu xua đuổi Hiền Nhân bằng thái độ và cách cư xử
khinh miệt.
Ngày
hôm sau Hiền Nhân vào cung thì con chó chạy ra gầm gừ sủa. Hiền Nhân thấy
Phu Nhân chỉ chắp tay chào sơ sài và thấy cách bày biện có khác hơn mọi
ngày thì biết ngay là có mưu kế. Người suy nghĩ:
-
Mình không muốn hại ai mà nay người ta trở lại hại mình như vậy chi bằng
phải lánh mặt vào núi tu hành là hơn. Người oán mình tất sau sẽ sinh
thù lớn, ta không nên khinh thường.
Nghĩ xong, Hiền Nhân
nói lời cảm hứng như sau:
O
-
Ở đời có thịnh ắt có suy, có hội họp ắt có ly tán, lành dữ vô thường,
họa phúc tự mình chuốc lấy. Kết bạn mà không bền chắc thì không nên
thân. Thân mà không có chừng mực, thân lâu sẽ sanh khinh lờn. Ví như múc
nước giếng, múc sâu thì nổi cặn. Gần người hiền được thêm trí huệ,
ở với kẻ dốt càng thêm ngu si. Thấy nhau thường thì hay khinh lờn, xa
nhau quá thì thành thờ ơ. Do đó, giao
tiếp qua lại với người lành nên có chừng mực, thân mà có cung kính
thì thân lâu càng có hậu. Giao thiệp với kẻ bất lương, họ ăn ở không
thực thà, lời ngon tiếng ngọt chẳng qua là để lợi dụng mình, dù cho
có kết hợp, cũng không tin. Vua lấy lễ độ tiếp tôi, tôi cung kính đáp
lại. Nay vua đối đãi khinh dễ thì tôi phải
lánh xa. Thân yêu nhau rồi có sự giận ghét nhau, khi thương thì
muốn nhờ cậy, lúc ghét thì chẳng muốn gần. Lấy sự cung kính nhau để
làm thân thiện, lấy sự răn dạy lẫn nhau để tránh xa điều ác. Mà nay
có người chẳng phân biệt cái nào là ác, cái nào là thiện, ấy chẳng
phải là đạo an thân. Người không có lỗi với mình, thì mình không nên
bày chuyện vu oan cho họ, Người muốn xa ta thì ta không nên miễn cưỡng gần
họ. Sự thương đã xa lìa thì không nên nghĩ đến. O
Con
chim đậu gãy nhánh còn biết đi tìm nhánh khác
để đậu, huống chi làm người qua lại có pháp độ, hà tất phải thủ
thường. Cành mục ta không nên vịn nắm; người loạn ý, ta chẳng nên phạm
nhằm họ. Người muốn đem việc xấu cho nhau, dù thấy nhau cũng không vui,
ta xướng mà người không phụ họa theo, nên biết đó là người ở bạc.
Người muốn đem việc lành cho nhau thì dù chậm dù gấp cũng đi; đem lời
trung chính nhắc nhủ nhau, thì đủ biết người ấy là người có hậu.
Mà nay lại có người không chịu gần người hiền, chẳng lánh xa kẻ ác, trước kính sau khinh, không phân
biệt kẻ hiền người ngu, thì nếu ta không đi, còn đợi đến bao giờ mới
đi ! Phu nhân ban đầu lễ lạy mà nay chỉ vòng tay, nếu ta không đi để
đợi chừng mắng đuổi rồi mới đi hay sao? Ban đầu thì giường vàng nay
giường tre, ban đầu đũa ngà chén ngọc, mà nay chén sành đũa tre, ban đầu
thì cơm ngon canh ngọt, mà nay cơm hẩm gạo tấm, vậy nếu ta không đi, đợi
đến cơm đổ đất mới đi hay sao? Bạn trí thức gặp nhau như chủ đãi
khách, đêm đầu thì quí trọng như vàng, đêm thứ nhì thì làm lơ như bạc,
đêm thứ ba lạnh ngắt như đồng, chứng cớ rõ ràng như vậy nếu ta không
đi đợi đến bao giờ mới đi?
O
Vua
vừa nghe vừa hổ thẹn, cảm động thưa:
-
Nước trẫm mà được giàu có, thịnh vượng là nhờ Ngài. Nếu Ngài bỏ
đi, sau này nước nhà sẽ nguy khốn.
Hiền
Nhân từ tốn đáp:
-
Trong thiên hạ có bốn điều tự hoại: Một là cây có nhiều hoa trái nặng
sẽ gãy nhánh; hai là rắn ngậm nọc độc, nọc độc sẽ trở lại hại nó;
ba là kẻ làm tôi không hiền thì sẽ hại nước nhà; bốn là người làm
việc bất thiện thì khi chết sẽ đọa vào địa ngục. Vậy nên trong kinh dạy: “Sự độc
ác do tâm sinh ra và sẽ trở lại tự hại tâm mình cũng như sắt sinh ra sét,
chất sét ấy trở lại tiêu hình của sắt.”
Hiền
Nhân dạy tiếp:
-
Bạn có bốn thứ: Một là kết bạn như hoa, hai là kết bạn như cân, ba
là kết bạn như núi, bốn là kết bạn như đất. O
Sao
gọi là kết bạn như hoa? Khi bông hoa còn tươi tốt thì giắt trên đầu,
khô héo rồi bỏ đi. Bạn loại này cũng thế; hễ thấy giàu sang thì xu phụ
theo, thấy nghèo nàn lại làm lơ.
Sao
gọi là kết bạn như cân? Khi để vật nặng thì đầu gục xuống, vật
nhẹ thì đầu vổng lên, có qua lại thì cung kính nhau, không qua lại thì
khi dễ nhau.
Sao
gọi là kết bạn như núi? Hòn núi vàng loài chim thú tụ về, lông cánh
được chói màu vàng rực. Kết bạn cũng thế khi sang thì sang với nhau,
khi vui đồng vui.
Sao
gọi là kết bạn như đất? Tất cả mọi vật đều dựa đất mà sinh.
Làm bạn để nuôi dưỡng ủng hộ, ân hậu không quên.
Nhà
vua thưa:
-
Nay trẫm biết cái trí suy nghĩ của trẫm còn cạn hẹp, tin theo lời tà siểm,
khiến Ngài phải ra đi.
Hiền
Nhân đáp: Người có trí có bốn việc không nên tin: Một là bạn tà ngụy;
hai là bề tôi nịnh siểm; ba là vợ yêu nghiệt; bốn là con bất hiếu.
Ấy là bốn cái không tin theo. Vì thế, kinh dạy: Bạn tà hại người, tôi
nịnh hại triều, vợ yêu nghiệt phá nhà và con bất hiếu hại cả cha mẹ.
O
Nhà vua thưa:
-
Trước kia trẫm yêu quý, hậu trọng Ngài, xin Ngài nghĩ lòng tốt của trẫm
không nên bỏ đi vậy.
Hiền
Nhân đáp:
-
Có mười trạng thái tỏ cho biết là có yêu quý hậu trọng: một là xa
nhau lâu không quên; hai là thấy nhau thì vui mừng; ba là có món ngon vật lạ
san sẻ cho nhau; bốn là khi có lỡ lời, đừng chấp trách nhau; năm là nghe
điều lành càng thêm vui vẻ; sáu là thấy việc dữ đem lời trung chính
mà can gián; bảy là làm được những việc khó làm; tám là không đem chuyện
riêng nói với người; chín là khi gặp việc bối rối phải giải quyết
cho nhau; mười là đến lúc nghèo khổ không rời bỏ nhau. Nên trong kinh có
dạy: “Bỏ dữ làm lành tu tập đúng như Pháp, đem lời trung chánh dạy dỗ,
nghĩa hiệp, có đạo.” O
Có
tám việc biết là không ưa nhau: Một là thấy nhau mặt đổi sắc; hai là
không liếc ngó, không thẳng thắn; ba là lời nói không ôn hòa; bốn là
nói phải cho là quấy; năm là nghe lời suy bại thì vui thích; sáu là nghe lời
hưng thịnh thì không vui; bảy là hủy bỏ chê bai việc tốt đẹp của
người; tám là tán thành việc ác của người.
Nên
trong kinh dạy rằng: “Lỡ đánh chết người, tội ấy còn có thể dung thứ;
dùng tâm độc âm mưu để hại người, tâm niệm ấy không nên gần.” O
-
Thưa Hiền Nhân, trẫm là người ngu si, không biết phân biệt kẻ trí người
ngu, nên nghe lời tà siểm, làm trái mất ý thánh nhân.
-
Tâu đại vương có mười sự chứng tỏ đó là người trí: một là biết
kẻ hiền, người ngu; hai là biết kẻ sang, người hèn; ba là biết kẻ
giàu, người nghèo; bốn là biết việc nào khó việc nào dễ; năm là biết
việc nào đáng bỏ, việc nào nên làm; sáu là biết nhiệm vụ của mình;
bảy là vào nước nào biết được phong tục nước ấy; tám là biết được
chỗ trở về; chín là học rộng hiểu nhiều; mười là biết được túc
mạng. Mười việc đó chứng tỏ người có trí. Kinh dạy: “Khi tai nạn gấp
rút mới biết được lòng bạn, có đánh nhau mới biết kẻ yếu người mạnh,
có luận nghị mới biết được người
trí người ngu, lúc cơm thua gạo kém mới biết người có lòng nhân.”
O
-
Thưa Hiền Nhân, nước trẫm từ khi được Ngài giúp đỡ, trong ngoài đều
được an ổn. Nếu nay Ngài bỏ ra đi thì trẫm biết nương nhờ ai.
-
Tâu đại vương, có tám điều kiện để được an ổn: một là được của
cha mẹ để lại; hai là có nghề nghiệp bảo đảm lấy sự sống của mình;
ba là học thức cao; bốn là có bạn hiền; năm là có người vợ trinh
lương; sáu là được người con hiếu thảo; bảy là tôi tớ được hòa
thuận; tám là lìa xa việc ác. O
-
Thưa Hiền Nhân, lời của Thánh nhân thật không một ai nghe mà không
thích.
- Tâu đại vương có tám cái thích: một là cùng làm việc
với người hiền; hai là được học với bậc thánh nhân, ba là tánh thể
nhân từ và ôn hòa; bốn là sự nghiệp mỗi ngày mỗi hưng thịnh; năm là
diệt được tánh giận dữ; sáu là biết phòng ngừa tai nạn; bảy là biết
nương gần đạo pháp; tám là bạn bè không dối gạt nhau. O
- Thưa Hiền Nhân, Ngài thường
khi dễ khuyên can mà sao nay lại khó cầm lắm thế?
-
Tâu đại vương, có mười trường hợp khó có thể khuyên can: Một là
tham lam che mất lương tri; hai là tham đắm sắc đẹp; ba là ưa danh vọng
địa vị; bốn là kẻ ngang tàn bạo ngược; năm là kẻ nhút nhát; sáu là
kẻ khờ khạo lừ đừ; bảy là kẻ kiêu ngạo buông lung; tám là người
ưa đấu tranh; chín là người chấp tập tục si mê; mười là kẻ tiểu
nhân. Kinh chép: “Nói pháp cho người ngu nghe cũng như nói với kẻ điếc,
những ai khó hóa độ, thì không thể khuyên can.” O
-
Thưa Hiền Nhân, trẫm là kẻ kiêu ngạo lại thêm buông lung, chưa thể xa lìa
được sắc đẹp, còn Ngài là người đã chứng pháp vô vi, lẽ nào không
nói với trẫm nữa ?
- Tâu đại vương có mười trường hợp mà mình không
nên nói với người: Một là kẻ ngạo mạn; hai là kẻ ngu độn; ba là kẻ
hay lo sợ; bốn là kẻ ham vui chơi; năm là kẻ hay e lệ; sáu là kẻ câm ngọng;
bảy là kẻ cừu hận; tám là kẻ đói lạnh; chín là kẻ mắc nhiều việc;
mười là người đang tham thiền tịnh lự. O
Trong
kinh có câu: “Làm được hãy nên nói, làm không được thì đừng nói
suông; lời hư ngụy không thành tín thì các bậc minh triết không thèm đoái
đến.”
-
Thưa Hiền Nhân, người đàn bà xinh đẹp, nói năng khôn khéo êm tai, mà
trong thì độc ác, hai lòng thì căn cứ vào đâu mà hiểu họ được ?
-
Tâu đại vương, có mười triệu chứng sẽ hiện diện cho ta thấy: Một là
đầu tóc rối, bới nghiêng qua một bên; hai là mặt hay biến sắc và mồ
hôi tự nhiên chảy; ba là lớn tiếng nói cười; bốn là hay liếc ngó,
không đoan chính; năm là trang sức lộng lẫy; sáu là hay nhìn trộm qua kẽ
vách; bảy là ngồi không yên; tám là hay dạo chơi trong xóm làng; chín là
hay đi dạo ngoài đồng vắng; mười là hay giao thiệp với hạng dâm nữ.
-
Thưa Hiền Nhân, quả thật cái đó đáng ghét lắm.
-
Tâu đại vương, có năm cái đáng ghét: Một là ác khẩu hại người; hai
là dèm pha siểm nịnh và thúc dục sự đấu tranh; ba là rầy rà không thuận
hòa; bốn là ganh ghét và trù rủa; năm là nói hai lưỡi gạt người. O
-
Thưa Hiền Nhân, làm thế nào để người kính mến?
-
Tâu đại vương, có năm tính tốt này thì được người cung kính:
Một
là nhu hòa nhẫn nhục; hai là cung kính và có tín tâm; ba là mau mắn và ít
nói; bốn là lời nói đi đôi với việc làm; năm là đối với bạn càng
lâu càng thân hậu. Trong kinh có câu: “Nếu biết thương lấy mình thì phải
dè dặt giữ mình. Các bậc hiền sĩ có chí
hướng cao thượng học hiểu chính đáng thì không bao giờ lầm
lạc.” O
Nhà
vua năn nỉ:
-
Xin Ngài cùng trẫm trở lại Tinh xá.
Hiền
Nhân đáp:
-
Có mười kẻ mà mình không nên mời về nhà: Một là thầy ác; hai là bạn
tà; ba là kẻ hay khinh bỉ bậc thánh; bốn là kẻ hay nói tráo trở; năm là
kẻ dâm ô; sáu là người thèm rượu; bảy là kẻ có tánh xấu; tám là người
không biết ân nghĩa; chín là đàn bà con gái mất nết; mười là kẻ tỳ
thiếp ưa trang sức.
O
Nhà
vua thưa:
-
Được Ngài ở lại thì Trẫm cùng thiên hạ được an vui vô sự. Nay Ngài
bỏ đi thì nhân dân oán trách Trẫm.
Hiền
Nhân đáp lời:
-
Có tám điều kiện để được an vui: Một là vâng thờ kính thuận các sư
trưởng; hai là đem sự hiếu thuận dạy cho dân; ba là khiêm nhường kẻ
trên người dưới; bốn là phải tập tánh nhân đức ôn hòa; năm là đến
cứu người trong cơn nguy cấp; sáu là phải quên mình nghĩ đến người; bảy
là phải thu thuế, lấy lãi ít và phải biết tiết kiệm; tám là bỏ hận
thù xưa. Trong kinh có câu; “Chuyên tu cội đức, nghĩ trước rồi làm sau,
cứu giúp người trong cơn nguy cấp và bần khổ, thì trọn đời được an vui.
O
-
Thưa Hiền Nhân, trẫm luôn luôn nghĩ tới Hiền Nhân nào có bao giờ lãng
quên.
-
Tâu đại vương, bậc trí giả có mười hai điều luôn phải nghĩ tới không
bao giờ lãng quên: Một là khi gà gáy sáng đã nghĩ tới tội lỗi mà lo việc
phúc đức để đền bù lại; hai là nhớ việc hầu hạ tôn thân; ba là gặp
việc gì phải suy nghĩ dự bị trước; bốn là phải lo nghĩ lánh xa sự
nguy hại; năm là phải nghĩ trước mới nói sau để khỏi phải lạc lầm;
sáu là phải đến những kẻ lạc lầm mà đem lời trung chính dạy bảo nhắc
nhở họ; bảy là nghĩ đến những kẻ nghèo khổ để thương xót cấp hộ;
tám là phải lo làm việc bố thí nếu mình có của; chín là phải nghĩ đến
sự ăn uống cho có chừng mực; mười là phải nhớ giữ sự công bình khi
phân xử hoặc phân chia; mười một là phải nhớ đem ân đức ban rải dân
gian; mười hai là phải thường nghĩ đến sự huấn luyện nếu mình là
quân sĩ hay vua quan. Đấy là mười hai điều mà người trí phải thường
nghĩ đến. Vậy nên trong kinh có câu: “Làm việc gì phải lo dự bị trước,
như vậy sự nghiệp sẽ mỗi ngày mỗi lớn, không khi nào thất bại.” O
-
Thưa Hiền Nhân, tiếc rằng trẫm không có một bậc đại hiền nào để cầu
Hiền Nhân lại cho Trẫm.
Hiền
Nhân lại tiếp:
-
Bậc đại hiền có mười hạnh tốt: Một là học rộng hiểu nhiều; hai
là không phạm giới luật trong kinh dạy; ba là kính thờ Tam Bảo; bốn là
thọ pháp lành không quên; năm là kềm chế được tham sân si; sáu là tu
được pháp bốn tâm bình đẳng; bảy là ưa làm việc ân đức; tám là
không nhiễu hại chúng sinh; chín là hay hóa độ được người bất nghĩa;
mười là không lầm lộn việc lành việc
ác.
O
-
Thưa Hiền Nhân, thực là tội trẫm quá nặng: nuôi dưỡng kẻ ác làm cho
Ngài giận mà bỏ đi.
- Tâu đại vương kẻ đại ác thường được biểu hiện
qua mười lăm tội nặng: Một là sát sanh; hai là trộm cắp; ba là quen
thói dâm ô; bốn là dối trá; năm là nịnh hót; sáu là chuốt ngót; bảy
là dèm pha; tám là khinh bậc hiền sĩ; chín là tham sự ô trược; mười là
buông lung; mười một là say sưa; mười hai là ganh ghét kẻ hiền; mười
ba là hủy báng đạo đức; mười bốn là sát hại thánh nhân; mười lăm
là không kể tội lỗi. O
-
Thưa Hiền Nhân, trẫm năn nỉ Ngài mãi không được, lấy làm hổ thẹn
quá.
-
Tâu đại vương, người đời có mười cái hổ thẹn: Một là làm vua
không hiểu chánh trị; hai là tôi thần mà vô lễ; ba là thọ ân không lo
báo đáp; bốn là có tội lỗi không chịu chừa bỏ; năm là một vợ hai
chồng hay một chồng hai vợ; sáu là chưa cưới mà có thai; bảy là tập hợp
không thành; tám là có binh khí mà không thể chiến đấu; chín là kẻ bỏn
sẻn không bố thí; mười là tôi tớ mà chủ không sai khiến được. O
-
Thưa Hiền Nhân, nay trẫm biết rằng: Người đạo đức rất khó chiều
chuộng.
-
Tâu đại vương có mười hai điều khó: Một
là làm việc với người ngu; hai là yếu đuối không chống lại được với
sức mạnh; ba là thù nhau mà ở chung một nhà; bốn là học ít mà đứng
ra nghị luận; năm là nghèo hèn mà trả được nợ; sáu là ra trận không
có tướng sĩ; bảy là thờ vua trọn đời; tám là học đạo mà mất tín
tâm; chín là làm ác mà muốn quả báo đẹp; mười là sinh ra đời được
gặp Phật; mười một là được nghe chánh pháp của Phật; mười hai là
làm theo được chánh pháp ấy mà thành tựu. O
Nhà
vua khen ngợi:
-
Gần bậc minh đức thật có lợi. Đàm luận với Ngài, trẫm lại được
thêm trí tuệ.
-
Tâu đại vương, người có trí huệ, đại khái biết bốn mươi lăm việc:
1. Là sửa sang nhà cửa. 2. Là gây không khí hòa hợp trong gia đình. 3. Là
giao thân với chính họ. 4. Là tin ở bạn bè. 5. Là theo học với bậc minh
sư. 6. Là làm việc gì quyết cho thành tựu. 7. Là tài trí cao rộng. 8. Là mọi hành vi đều hướng về việc
lành. 9. Là giàu sang thì lo làm việc ân đức. 10. Là tạo tác và sửa sang
đều phải thận trọng. 11. Là có của
phải mở mang sự nghiệp. 12. Là không giao của cải cho con cái nếu chúng
còn quá nhỏ. 13. Là kết bạn với người hiền. 14. Là không quá tin những
ai vừa mới quen biết. 15. Là tiền của ở chỗ huyện quan phải đem về
đừng để lâu. 16. Là mua bán đổi chác phải thật thà, không lường gạt.
17. Là dời ở nơi nào phải đến xem trước. 18. Là đến đâu phải biết
đó giàu hay nghèo, quý hay tiện. 19. Là phải giao thiệp thân cận với người
lành. 20. Là phải nương tựa vào một thế lực. 21. Là đừng tranh hơn kém
với kẻ cường bạo. 22. Là xưa giàu mà nay suy thì có thể mong phục hưng
cơ nghiệp. 23. Là nếu bần khổ thì đừng có cao vọng to tát. 24. Là có của
quý không keo với người. 25. Là việc bí mật đừng nói cho vợ nghe. 26.
Là làm vua phải kính người hiền đức. 27. Là phải ăn ở có hậu, nhất
là bậc trung chính. 28. Nếu là thanh liêm, có thể dùng trị nước, hay có
thể đứng ra trị nước. 29. Là gặp việc phải lo lập công. 30. Là trong
công cuộc giáo hóa, lấy sự hiếu thuận làm căn bản. 31. Là phép của
ông thầy là quý sự ôn hòa, như thế học trò đủ cung kính. 32. Là thầy
có nhiều học trò, phải dạy chúng làm việc trung nghĩa. 33. Là làm thuốc
phải hiệu nghiệm, nghề còn vụng chớ đem ra thi thố. 34. Là đau ốm phải
nghe lời thầy thuốc. 35. Là ăn uống phải giữ cho có độ lượng. 36. Là
có của ngon vật lạ chia sẻ cho nhau, đừng tiếc. 37. Là cho ai, hoặc cho
ai mượn gì, phải tự tay mình trao cho họ. 38. Là làm chứng cớ cho người
chính. 39. Là đừng vu oan cho kẻ vô tội. 40. Là khuyên can sự oán giận
và làm cho sự thuận thảo trở về giữa hai người. 41. Là nhẫn nại và
xa lánh việc ác. 42. Là đừng phân biệt giàu nghèo mà ở với người. 43.
Là lấy sự thuận hòa làm quý. 44. Là theo đạo phải giữ giới. 45. Là lấy
sự trong sạch làm quý hơn tất cả. O
Trong
trần thế chỉ có đạo Niết-bàn là cao quý hơn cả.
Vì
sao? Vì Niết-bàn là cảnh giới không có sự già nua, bệnh, chết, không đói
lạnh, không tai hoạ nước lửa, không oan gia, không trộm cướp, không dục
vọng ân ái, không lo buồn hoạn nạn, không tất cả những khổ sở đớn
đau. Cảnh giới đó là diệt độ. Diệt độ không phải là một sự chết,
nhưng đấy là sự giải thoát tự tại thôi.
Cảnh
giới ấy, hoàn toàn an vui, một niềm vui thanh tịnh vô biên, có thể kiến
lập cảnh giới ấy trên trần thế, cho riêng mình và cho chung tất cả
muôn loài. Bệ hạ hãy tự lo, tự tu, tự tỉnh lấy. Bệ hạ hãy tự thương
lấy Bệ hạ. Hiền Nhân này xin lên đường. O
Vua
lại hỏi:
-
Ngài lên đường, thế không còn răn dạy trẫm điều gì nữa ư ?
-
Tâu đại vương, chỗ đất bị nước mạnh xoáy lỡ thì dù một trăm năm
sau, cũng không nên dựng lấy một cái gì trên ấy. Vì giòng nước sẽ
theo thói cũ mà lôi cuốn đi tất cả. Người có ác tâm mà bây giờ họ bảo
mình là bắt đầu làm lành, thì mình quyết không nên tin vội. Vì tâm ác
của họ chưa diệt, họ sẽ trở lại làm việc ác, ta phải nên dè dặt.
Người muốn làm việc gì phải lần lần, như người đào giếng, đào
mãi xuống sâu sẽ có mạch nước. Kẻ trí giả thấy sự nguy hiểm hoặc
bất bình giữa cuộc thế thì hay ra tay cứu giúp, cũng như người có tài
bơi lội có thể lội ngang qua giòng nước mạnh.
O
Nhà
vua thưa:
-
Trẫm muốn nghe lời Ngài dạy, và nếu như có người nào khác đến thì
trẫm làm sao biết được người đó là bậc trí ?
Hiền
Nhân đáp:
-
Chỗ vấn đáp người trí bao giờ cũng khác xa kẻ tầm thường. Không lời
nói nào của họ mà không phải là lời nói lành. Bậc thầy bao giờ cũng
chính đáng. Và những đức tánh này chứng tỏ rằng kẻ ấy là bậc trí
giả: Nhân từ mềm mỏng cẩn thận chắc thật, ôn hòa, nhã nhặn, lời
nói hoạt bát và hay hâm mộ các việc lành. O
-
Tâu đại vương, nghe lời nói thấy việc làm của họ, thì biết là tâm
và khẩu giống nhau. Xem cách cư xử, vẻ đi đứng của họ mà biết là
không giả dối; nghiệm việc họ làm, cách ăn mặc, cách làm lụng cũng
dư biết là bậc trí tuệ.
Đàm
luận với người trí phải cho vừa ý họ mà muốn cho vừa ý họ thì thiệt
là khó.
-
Thưa Hiền Nhân, trẫm muốn tôn thờ người trí mà đừng làm mất ý họ,
thì phải làm sao ?
-
Tâu đại vương, kính mà đừng khinh, nghe lời dạy phải làm theo, vì chỗ
hiểu biết của người trí rất đúng, bao giờ họ cũng có thể theo chánh
đạo và không có tâm tham cầu, lại có thể suy xét rõ được việc quá
khứ, hiện tại và tương lai. Tầm mắt của bậc trí giả rất rộng, họ
thấy rõ muôn vật trong không gian và thời gian đều chỉ là biến hiện,
muôn pháp đều quay về nơi nhất điểm không tịch bản nhiên. O
Kẻ
trí thì thấy rõ ràng đời là một sự biến đổi tang thương; trẻ trung
rồi sẽ già nua; cường tráng rồi sẽ suy nhược; có sống thì sẽ có chết;
giàu sang như mây nổi, đều là vô thường cả. Cho nên lúc an ổn phải
nghĩ đến khi nguy ngập, khi hưng thịnh thì nghĩ đến lúc vô thường, người
lành thì kính mến, người ác thì phải lánh xa. Nếu có giận hờn ai thì
nên trừ bỏ, đừng vì thế mà gây ác hại người. Nhu hòa mà khó xâm phạm,
yếu đuối mà khó thắng. Người trí như vậy đó.
O
Người
trí theo pháp thánh hiền, thường làm việc nhân từ và ưa dạy dỗ kẻ
ngu muội trở nên sáng suốt như họ. Người trị nước thì nên ban bố
ân huệ cho kẻ biết làm lành, kẻ tu hành thì lo dẫn dắt mọi người về
nơi chánh đạo; quốc gia có hoạn nạn thì cùng nhau đàm luận lo toan; tới
lui phải biết thời mới khỏi bị sự nghi ngờ oán trách. Tuy có ơn rộng
đức lớn với người, nhưng đừng cầu mong người báo đáp, thờ người
trí thì được phước và trọn đời không mắc phải tai nạn. Bệ hạ đừng
có nghi ngờ. Pháp chánh trị không nên trái với lý đạo, dạy dân làm
lành thì càng ngày càng thêm lợi ích cho đất nước.
O
Đức
vua than thở:
-
Thưa Hiền Nhân, thực lòng trẫm rất sầu thảm, hoảng hốt như kẻ điên
cuồng.
Vua
bèn rơi lụy khóc lóc, đến trước Hiền Nhân sám hối cầu xin xá tội.
Hiền Nhân đỡ đức vua từ tốn thưa:
-
Hiền Nhân này cũng như con chim bay, không nhất định đậu ở cành nào. Đạo
pháp của Hiền Nhân không thể lẫn lộn với lỗi lầm để mất chỗ
thanh cao quý giá: Cũng như lửa cháy ngoài đồng trống, những cây gần
bên sẽ bị cháy sém, hễ chỗ có nước xoáy là thuyền quay; hễ độc trùng
là hại người. Vì thế Hiền Nhân muốn tùng sự với người trí để khỏi bị ngu hèn quấy nhiễu,
Hiền Nhân này
đã rõ ràng: Cỏ cây mỗi thứ mỗi
khác, loài
chim muông cũng thế: bạch
hạc thì lông trắng, chim quạ thì lông
đen, nay Hiền Nhân khác mà ai kia cũng khác, nên Hiền Nhân này không muốn
lưu lại hoàng cung nữa. Đem cái áo lụa đẹp mặc cho người nhà quê cày
ruộng thực là vô ích. Vì sao? Người nhà quê ấy chỉ quen bùn đất, làm
gì biết mặc áo lụa đẹp và có mặc cũng chỉ làm hư. O
Ở
nhân gian, có một thứ cây gọi là Phản Lệ. Người chủ trồng nó thì
không được ăn trái, còn có kẻ muốn hái trộm thì trái lại sinh ra cho
mà hái. Bệ hạ cũng như cây ấy: Người giúp nước được an ổn thì hất
hủi đuổi xô, còn kẻ nịnh thần gian dối, phá tan việc triều chánh lại
cầm ở lại cho ăn bổng lộc. Khách ở lâu, chủ nhà sinh nhàm chán, nên
Hiền Nhân này phải đi vậy. O
Nhà
vua kính cẩn thưa:
-
Mạng người rất trọng, cúi xin Ngài mở lòng từ nghĩ thương đến. Trẫm
nay muốn đem thân mạng tôn thờ Ngài hơn xưa.
Bệ
hạ nói thế nhưng cũng chưa chắc gì làm được. Ý Hoàng hậu rất độc
ác. Hiền Nhân này không nên ở lại làm chi. Hiền Nhân là vị Sa-môn mang
bình bát khất thực, tự vui và dứt trừ tham vọng, giữ trọn giới luật
của đạo và xa lìa tất cả tội lỗi.
Nhà
vua khẩn khoản:
-
Ngài đã quyết định, trẫm không thể cản ngăn. Nhưng Ngài chớ đoạn
giao, cúi mong một phen trở lại để lòng trẫm khỏi ân hận.
Nếu
như Bệ hạ và Hiền Nhân này đều mạnh giỏi thì có lúc gặp nhau. Hiền
Nhân này muốn vào núi để tu dưỡng tâm linh, rèn thêm trí tuệ. Gần nhau
để mà nghĩ đến chuyện ác hại nhau thì chi bằng xa nhau mà nhớ nhau
trong tâm niệm lành. Người trí nghe thí dụ cũng đủ rõ; nay Hiền Nhân
này xin đem một câu chuyện để thí dụ Bệ hạ nghe. O
“Như
người lấy mật xoa vào lưỡi dao, đưa cho con chó liếm, vì tham chút ngọt
nên bị đứt lưỡi, mà chó không biết đau đớn.” Nay bốn quan cận thần cũng thế, chỉ nói
ngon ngọt ngoài miệng, mà trong tâm dường như dao bén. Vậy Bệ hạ phải
đề phòng và từ đây về sau nếu gặp những sự kinh hãi, Bệ hạ thường
nhớ đến Hiền Nhân này thì kinh sợ sẽ tiêu tan.
Loài
chim cú, chim mèo thì ưa ở nơi bụi rậm, chuột bọ thì ưa núp dưới đống
rơm, đống rác, chim chóc thì đậu trên cành, con hạc thì ưa ở gần ao nước đục. Mỗi vật
đều có tánh riêng, chí nguyện bất đồng, sự ưa thích có khác. Hiền
Nhân này mến đạo, Bệ hạ thì ưa việc trị dân, đó là sự sai khác.
Những
vật thô xấu cũng đều có chỗ cần dùng, không nên phí bỏ tồi tàn. Hạng
người nào dù bần tiện, ngu hèn đến đâu, ta cũng không nên hất hủi. Họ
đều là những người hữu dụng, dụng nhơn như dụng mộc, Bệ hạ phải
hiểu như thế. Hiền Nhân này cũng đã biết người, biết lời nói, biết
ý nghĩ của họ thế nào rồi.
Con
chim ban đầu đậu ở cành thấp, sau nhảy lên nhánh cao. Hiền Nhân thấy
chó Tân-kỳ sủa, biết rằng không ngoài thì trong, đã có sắp đặt mưu mô
gì đó, nên trong lòng chán ngán. Hiền Nhân này xin đi. Nói xong liền đứng
dậy mang bát, chống tích trượng ra khỏi thành. Vua cùng đình thần và
nhân dân làm lễ Hiền Nhân rồi tiễn Người ra khỏi thành quá một đoạn
đường. O
Từ
ấy về sau, nhân kẻ trung chính đi rồi thì kẻ loạn thần tha hồ tung
hoành gian nịnh. Ngoài thì bốn quan cận thần cậy thế bắt ép lương dân,
trong thì phu nhân dùng thói yêu nghiệt, làm nhà vua mê hoặc, không còn lo
nghĩ việc nước, chỉ dâm lung, ưa vui ngày đêm vùi thân trong say đắm.
Quan liêu cầm quyền tự do thâu thuế bắt ép nhân dân không một chút từ
tâm, nhân đạo. Kẻ lấy thuế chợ mà không thèm nhìn món đồ, người mạnh
lấn hiếp kẻ yếu, bóc lột tàn sát lẫn nhau, không kể gì đến pháp luật.
Có kẻ lại bắt con gái của người về làm nô lệ, tỳ thiếp. Thân thuộc
ly tán, tìm đường trốn tránh tản lạc, mỗi người sống vất vưởng mỗi
nơi, tai họa liên miên mà nhà vua không bao giờ biết đến. Mưa gió không
phải thời, trồng trọt mất mùa, nước loạn dân nghèo, sự đói khó đầy
đường, tiếng than van oán trách phổ vào câu ca dao cảm động đến cả
quỷ thần. Nhân dân sầu khổ, lo sợ chết không biết bao nhiêu, kẻ sống
vừa than khóc vừa đi, không một ai không nhớ tưởng và mong cầu Hiền
Nhân độ nước. O
Lúc
ấy có vị Đạo Nhân, vốn là cháu trai của Hiền Nhân, thấy trong nước
loạn lạc, xóm làng hư hoại, nhân dân cùng khốn, bèn vào cung tâu với
nhà vua: Tâu Bệ hạ ! Các quan đại thần làm việc bất chánh, buông kẻ
trộm cướp, bắt giết kẻ vô tội, tàn hại nhân gian, hết đường vô
nhân đạo. Muôn dân oán thán, quỷ thần giận dữ nên gieo nhiều tai họa.
Đâu
đâu cảnh khổ cũng lan tràn mà Bệ hạ thì không hay biết gì cả.
Nếu
Bệ hạ không sớm trừ bọn loạn thần gian ác ấy thì sau này sẽ không
còn một lương dân ! O
Nhà
vua nghe nói kinh hãi, hoảng sợ đáp:
-
Quả thật như lời Hiền Nhân dạy trẫm khi trước.
Trẫm
đã dùng bốn tên loạn thần phá hoại nước nhà chẳng khác gì thả chó
sói trong bầy cừu vô tội. Trẫm chắc thế nào dân chúng cũng bị khốn
ách. Trẫm đã buông cương mặc cho con ngựa điên lôi kéo cỗ xe trị quốc,
thế nào nó cũng kéo xe xuống hố sâu.
Ngài
đến đây thức tỉnh trẫm và bảo trẫm như thế, xin Ngài có cách gì dạy
trẫm để trị an xã tắc được không ?
Đạo
nhân thưa:
- Từ khi Hiền Nhân ra đi đến nay, trong nước bị rối
loạn luôn, tất cả đều do bọn gian thần. Bệ hạ phải trù tính phương
kế gì để hưng phục lại giang sơn. Nước nhà còn có thể hưng phục
được. Xin Bệ hạ hãy cùng thần du hành một phen, để chính mắt Bệ hạ
được thấy, chính tai Bệ hạ được nghe những nỗi thống khổ rồi mới
biết thế nào là đúng sự thật. O
Nhà
vua liền cùng Đạo Nhân cải trang ra đi để dọ xét tình hình trong nước.
Vừa
ra khỏi thành thì thấy một toán phụ nữ xiêm y rách rưới, vừa đi vừa
khóc. Đạo Nhân thấy thế liền hỏi: “Các chị tại sao mà khổ sở
rách rưới như thế? Sao không lo làm ăn, hoặc có khó khăn lắm thì đi lấy
chồng, tuổi các chị đã lớn rồi kia mà.”
Một
người trong bọn trả lời:
-
Vì nhà vua cả. Phải chi nhà vua rách rưới nghèo đói như chúng tôi thì mới
bỏ ghét.
Đạo
Nhân bảo:
-
Các vị nói như thế là không đúng rồi, vì nhà vua là bậc cao sang chỉ
lo những việc to tát, đâu có thì giờ lo cho các chị được, các chị phải
tự đi làm mà sinh sống lấy chứ. O
Có
một chị không hài lòng nói:
-
Không phải thế đâu. Vì vua trị nước không minh, nên trong nước phải đói
rách và loạn lạc. Ngày thì khốn với bọn quan lại tham ô vơ vét, đêm
thì khốn với trộm cướp tứ tung;
áo không đủ mặc, cơm không đủ ăn, vì thế còn ai thèm cưới gả chúng
tôi nữa.
Đi
một quãng nữa, nhà vua gặp một bà già, áo không kín thân, hình hài gầy
yếu, mắt lòa sờ soạng, vừa đi vừa khóc. Đạo Nhân hỏi:
-
Bà cụ lo lắng gì mà khóc vậy ?
Bà
già ngẩng lên đáp:
-
Vì nhà vua cả. Phải như nhà vua mà mù như lão đây thì mới đáng kiếp,
lão sung sướng lắm vậy.
Đạo
Nhân hỏi:
-
Bà nói như thế là lầm rồi, hễ già thì mắt mờ, nhà vua có lỗi chi đâu
?
Bà
lão phân trần:
-
Đêm thì bị cướp, ngày thì bọn quan lại hiếp bức, phải chịu nghèo đói,
nên lão đây mới phải hái rau lượm củi đổi gạo để nuôi sống, đạp
phải độc trùng, vương phải độc khí, nên mới bị mù què như thế này.
Vậy không phải lỗi của nhà vua hay sao?
Vua
tôi lại đến một quãng đường, thấy có người đàn bà rách rưới đang
vắt sữa bò. Con bò đá một cái, người đàn bà ngã lăn xuống
đất, lòm còm bò dậy mắng: O
-
Phải chi mày đá Hoàng hậu vợ vua một đá như vậy cho bỏ ghét. Mày đá
tao làm gì!
Đạo
Nhân hỏi:
-
Tự con bò dữ đá bà, chứ Hoàng hậu có tội lỗi gì?
Bà lão trách móc:
-
Không lỗi à? Nhà vua bất chính, vợ vua xúc siểm, nước nhà mới rối loạn,
không lo cấm ngăn trộm cướp, để nó
bắt bò lành của tôi, chỉ để lại
một con bò dữ, vắt sữa nó là nó đá đau
điếng người. Tại nhà vua chứ ai nữa.
Đạo
Nhân bảo:
-
Tại bà không biết cách nặn sữa nên bị nó đá.
Bà
lão đáp:
-
Không phải thế đâu ! Nếu nhà vua ở chính thì ngài Hiền Nhân sẽ ở lại
đây, nước nhà đâu có bị loạn lạc.
Đi
một lát nữa, đến khoảng đồng ruộng, nhà vua thấy con chim đang mổ một
con ếch. Con ếch lún vào bùn, mắng rằng: “Phải chi mày mổ vua một cái
như thế thì tao mới thích cho. Mầy đừng mổ tao.” O
Đạo
Nhân bảo con ếch:
-
Người bị con chim mổ, chứ đâu lỗi ở nhà vua, nhà vua đâu có giữ hộ
cho ngươi được.
Con
ếch đáp:
-
Tôi không mong nhà vua giữ hộ cho tôi đâu.Vì nhà vua không lo việc trị nước,
chính trị bỏ bê, pháp luật không minh, bỏ phế việc cúng tế, bỏ phế
việc dẫn thủy nhập điền, nên trời hạn, nước khô, thân tôi phải
bày ra để cho con chim nó mổ.
Con
ếch lại than:
-
Nếu nhà vua biết cách giữ quyền chính thì bỏ một người ác, lợi cho một
nhà; bỏ một nhà ác lợi cho một làng, rồi sẽ đến cảnh một quốc gia
thịnh trị. Vua không biết chấp chính nên nhân dân khổ sở, thiên hạ
kêu ca.
Liền
đó, Đạo Nhân tâu vua:
-
Xin đại vương xét kỹ: Trăm họ vô tội, khổ sở than khóc, cảm động
đến cả quỷ thần, đến nổi con ếch còn thốt lời như vậy. Chắc đại
vương cũng đã thấy rồi. Vậy đại vương đuổi kẻ ác, kiến thiết quốc
gia lại trên nền tảng thiện chánh, để muôn dân hồi đầu trở lại. Tâu
đại vương, bây giờ bắt đầu gieo giống lúa ở ruộng gặp mưa thuận
gió hòa thì lo gì mùa màng không trúng. O
Vua
hỏi:
-
Vậy theo ý Ngài, thì nên giao phó trách nhiệm này cho ai?
-
Bệ hạ hãy mau mời Ngài Hiền Nhân trở về, vì ngài là người rõ biết
thời cơ, nếu trở về trong nước sẽ lại được bình an.